(HT 6-16-2024)

ĐỨC MẸ THÁNH THỂ THEO THÁNH PHÊ-RÔ GIU-LI-A-NÔ Ê-MA (PETER JULIAN EYMARD)

IV. Tất cả những mầu nhiệm về cuộc đời của Đức Maria đều được tái hiện trong Nhà Tiệc Ly. Nếu chúng ta suy niệm về sự giáng sinh của Con Mẹ tại Bê-lem, chúng ta hãy tiếp tục trình thuật Tin Mừng, và chẳng bao lâu nữa chúng ta sẽ chứng kiến Thánh Thể cũng của chính Người Con đó được sinh ra trên bàn thờ. Hoặc nếu chúng ta thực hiện chuyến bay sang Ai Cập: Há chúng ta không thấy rằng Chúa của chúng ta thậm chí hiện đang ở giữa những người xa lạ và những kẻ man rợ, trong những thành phố và những quốc gia mà các nhà thờ bị đóng cửa và không ai đến thăm Ngài sao? Và nói đến cuộc sống ẩn dật của Ngài ở Na-gia-rét: chẳng phải chúng ta thấy Ngài còn ẩn dật hơn ở đây sao? Bằng cách này, chúng ta hãy xem xét tất cả các mầu nhiệm khác dưới ánh sáng Thánh Thể và suy ngẫm về nhiệm vụ mà Đức Maria đã đảm nhận.

Điều cần nhất là chúng ta cố gắng thực hành theo một vài nhân đức được ban tặng của Đức Trinh Nữ. Hãy bắt đầu thực hành ngay với nhân đức bé nhỏ nhất trong số những nhân đức này. Khi bạn đã biến những nhân đức ấy thành của riêng mình, bạn sẽ tiến dần từng chút một cho đến khi bạn đạt đến những nhân đức nội tâm của Mẹ, thậm chí cả nhân đức tình yêu của Mẹ.

Vậy thì mỗi ngày chúng ta hãy dâng một ít của lễ. Chúng ta hãy thấy trước điều gì đó mình sẽ phải trả giá. Có một số hy sinh mà chúng ta có thể lên kế hoạch trước: sẽ đi gặp một người như vậy, sẽ thực hiện một hành động như vậy… Hãy dâng của lễ này; Đức Trinh Nữ sẽ rất hài lòng với điều đó. Việc làm đó nhân danh chúng ta, sẽ là một bông hoa được thêm vào vương miện mà Mẹ muốn dâng lên Con của Mẹ vào ngày lễ của Ngài – lễ kính Mình Máu Thánh Chúa Kitô tuyệt vời.

Nếu chúng ta không thấy trước sự hy sinh cụ thể nào, chúng ta hãy giữ mình trong tâm thế quảng đại để đón nhận tất cả những gì Thiên Chúa sẽ gửi đến cho chúng ta. Chúng ta hãy cảnh giác, đừng bỏ lỡ bất kỳ cơ hội từ bỏ mình nào trôi qua. Những việc làm này ví như là những sứ giả đến từ thiên đường, mỗi sứ giả đều mang theo một ân sủng và một vương miện gai.

Chúng ta phải chào đón cả hai. Một sự hy sinh mà được biết trước, hay khiến chúng ta vịn lý trí, và lý luận cân nhắc, thì làm giảm bớt giá trị của việc hy sinh; nhưng những thứ mà chúng ta quảng đại chấp nhận mà không cần cân nhắc hay cân nhắc trước thì có giá trị hơn. Chúa muốn làm chúng ta ngạc nhiên. Ngài nói với chúng ta: “Hãy luôn sẵn sàng!” và tâm hồn trung thành sẵn sàng chấp nhận mọi điều Chúa muốn. Tình yêu đem đến những niềm vui bất ngờ. Chúng ta đừng bao giờ đánh mất những cơ hội hy sinh này; tất cả những gì cần thiết là phải quảng đại.

Một tâm hồn rộng lượng! Thật là một điều đẹp đẽ trước mắt Chúa! Thiên Chúa được tôn vinh bởi một người như vậy, và Ngài nói về bà (Đức Trinh Nữ) như Ngài đã nói về Gióp, với niềm vui và sự ngưỡng mộ “Ngươi có thấy Gióp, tôi tớ Ta không?” Tâm hồn yêu thương không để cho những hy sinh hằng ngày trôi qua. Cô (Trinh Nữ) ấy luôn cảnh giác, mắt hướng lên trời. Cô (Trinh Nữ) ấy cảm nhận thánh giá đang đến và cô chuẩn bị đón nhận nó.

Vậy chúng ta hãy tôn vinh Đức Trinh Nữ bằng Hy tế hàng ngày. Chúng ta hãy đến với Chúa qua Mẹ; nương náu phía sau Mẹ, trú ẩn dưới tấm áo choàng bảo vệ của Mẹ; hãy mặc lấy nhân đức của Mẹ. Tóm lại, chúng ta hãy núp dưới bóng của Đức Maria. Chúng ta hãy dâng mọi hành động, mọi công nghiệp, mọi nhân đức của Mẹ cho Chúa chúng ta. Chúng ta chỉ cần chạy đến với Mẹ Maria và thưa với Chúa Giêsu: “Con xin dâng lên Ngài sự giàu có mà Mẹ nhân lành của con đã giành được cho con” - và Chúa sẽ rất hài lòng với chúng ta.

Chuyển ngữ: Tu sĩ Phê-rô Trịnh Như Cung, sss (kỳ IV và hết)

 

_________________________________________________________________________________

Bài Ca Người Tôi Tớ Thứ Tư (Is 52:13-53:12)

Bài ca Người Tôi Tớ thứ Tư là một đoạn trong sách Ngôn Sứ Isaia (Is 52:13-53:12) mô tả chi tiết về cuộc khổ nạn, cái chết và sự minh oan của Người Tôi Tớ của Chúa. Người Tôi Tớ này thường được truyền thống Kitô giáo hiểu là tiền trưng cho Chúa Giêsu Kitô. Và đoạn văn này có liên hệ đặc biệt với Bí tích Thánh Thể.

Việc Tôn Vinh Người Tôi Tớ

Isaia 52:13-15 bắt đầu với lời khẳng định về việc được suy tôn đến tột cùng của Người Tôi Tớ. Ngôn sứ Isaia tuyên bố: “Này đây, người tôi trung của Ta sẽ thành đạt, sẽ vươn cao, nổi bật, và được suy tôn đến tột cùng” (Is 52:13). Sự tôn vinh này là công nhận chiến thắng và vinh quang tột đỉnh của Người Tôi Tớ, bất chấp những đau khổ mà Người phải chịu. Nó là tiền đề cho sự tương phản giữa việc được suy tôn với những sỉ nhục và đau khổ của của Người Tôi Tớ. Những gì xảy ra cho Người là những điều vô tiền khoáng hậu.

13Này đây, người tôi trung của Ta sẽ thành đạt,

sẽ vươn cao, nổi bật, và được suy tôn đến tột cùng.

14Cũng như bao kẻ đã sửng sốt khi thấy tôi trung của Ta

mặt mày tan nát chẳng ra người,

không còn dáng vẻ người ta nữa,

15cũng vậy, nó sẽ làm cho muôn dân phải sững sờ,

vua chúa phải câm miệng, vì được thấy điều chưa ai kể lại,

được hiểu điều chưa nghe nói bao giờ.

Những Đau Khổ của Người Tôi Tớ

Trong Isaia 53:1-3, trọng tâm chuyển sang sự đau khổ và bị chối từ mà Người Tôi Tớ sẽ trải qua. Người được mô tả là bị khinh khi và loại trừ, một người rất đau khổ. Cách miêu tả những đau khổ của Người Tôi Tớ này rất sống động và sâu sắc, làm nổi bật mức độ khổ đau của Người và việc bị nhân loại khai trừ mà Người sẽ phải đối mặt.

1Điều chúng ta đã nghe, ai mà tin được?

Cánh tay uy quyền của ĐỨC CHÚA đã được tỏ cho ai?

2Người tôi trung đã lớn lên tựa chồi cây trước Nhan Thánh,

như khúc rễ trên đất khô cằn.

Người chẳng còn dáng vẻ, chẳng còn oai phong

đáng chúng ta ngắm nhìn,

dung mạo chẳng còn gì khiến chúng ta ưa thích.

3Người bị đời khinh khi ruồng rẫy,

phải đau khổ triền miên và nếm mùi bệnh tật.

Người như kẻ ai thấy cũng che mặt không nhìn,

bị chúng ta khinh khi, không đếm xỉa tới.

Phaolô Phạm Xuân Khôi (kỳ I)


(HT 6-9-2024)

ĐỨC MẸ THÁNH THỂ THEO THÁNH PHÊ-RÔ GIU-LI-A-NÔ Ê-MA (PETER JULIAN EYMARD)

Chúng ta vẫn chưa cầu khẩn Đức Mẹ dưới danh hiệu đẹp đẽ này, Đức Mẹ Thánh Thể; nhưng lòng sùng kính Thánh Thể hiện đang lan rộng; chưa bao giờ thấy được lòng sùng kính Thánh Thể lại mạnh mẽ và phổ biến hơn như thời đại chúng ta ngày nay. Lòng sùng mộ đang phát triển khắp nơi, ngày cũng như đêm. Bí tích Thánh Thể sẽ trở thành phương thế cứu rỗi cho thời đại này. Việc tôn thờ Thánh Thể là vinh quang, là sức mạnh của thế kỷ này, và lòng sùng kính Đức Mẹ Thánh Thể cũng sẽ phát triển cùng với việc tôn thờ Bí tích Thánh Thể.

Tôi chưa thấy sự sùng kính này được đề cập đến (được luận giải) trong bất kỳ tác phẩm nào; tôi cũng chưa bao giờ nghe nói đến điều đó, ngoại trừ trong những Mặc khải về Mẹ Maria về Chúa Giêsu, trong đó tôi đọc được đôi điều về việc Đức Maria Rước lễ; và một lần nữa, trong Sách Công vụ Tông đồ, cho chúng ta thấy Đức Mẹ trong Nhà Tiệc Ly.

III. Đức Trinh Nữ đã làm gì trong Nhà Tiệc Ly? Đức Trinh Nữ đã yêu mến. Mẹ là Mẹ và là Nữ Vương của những người tôn thờ. Nói một cách ngắn gọn, Mẹ là Đức Mẹ Thánh Thể. Công việc của chúng ta trong tháng này sẽ là tôn vinh Mẹ dưới tước hiệu đẹp đẽ này, suy ngẫm về những gì Mẹ đã làm và xem Chúa đã đón nhận Mẹ như thế nào. Chúng ta sẽ khám phá ra sự kết hợp hoàn hảo của hai trái tim này – trái tim của Chúa Giêsu và trái tim của Đức Maria – hòa quyện đến mức dường như là một trái tim, một sự sống. Chính nhờ lòng đạo đức mà chúng ta có thể thâm nhập vào bức màn huyền nhiệm bao quanh đời sống tôn thờ của Đức Mẹ.

Điều đáng ngạc nhiên là Sách Công vụ Tông đồ chẳng nói gì về điều này, nhưng điều làm chúng ta hài lòng với việc (Sách Công vụ Tông đồ) nêu ra sự kiện Đức Maria cư ngụ trong Nhà Tiệc Ly. À! đó là bởi vì suốt cuộc đời của Đức Trinh Nữ chỉ có một hành động yêu thương và tôn thờ liên tục.

Nhưng làm thế nào để mô tả tình yêu và sự tôn thờ này? Làm sao diễn tả được sự ngự trị của Thiên Chúa trong tâm hồn và sự sống của linh hồn trong Thiên Chúa?

Không thể miêu tả được. Trong ngôn ngữ, không có ngôn từ nào có thể diễn tả được niềm vui của thiên đàng, và cuộc đời của Đức Maria trong Nhà Tiệc Ly cũng được hưởng niềm vui như vậy. Thánh Luca chỉ nói với chúng ta rằng Mẹ đã sống và cầu nguyện ở đó.

Chúng ta hãy học theo đời sống nội tâm của Mẹ khi cầu nguyện, khi thờ phượng. Chúng ta có thể hình dung ra tất cả những gì mãnh liệt nhất trong tình yêu, tất cả những gì thánh thiện nhất và tốt nhất về nhân đức, rồi quy tất cả cho Đức Maria.

Và vì Đức Maria đã sống trong Nhà Tiệc Ly và đã kết hợp với Bí tích Thánh Thể khoảng hai mươi năm, nên mọi nhân đức của Mẹ đều mang dấu ấn Thánh Thể. Các nhân đức được Mẹ nuôi dưỡng bằng việc rước lễ, tôn thờ và bằng sự kết hợp liên tục với Chúa Giêsu Thánh Thể. Các nhân đức của Đức Maria trong thời gian lưu trú tại Nhà Tiệc Ly đã đạt đến mức hoàn hảo cao nhất – một sự hoàn hảo gần như vô hạn – và chỉ có Con Thiên Chúa của Mẹ mới vượt qua được.

Chúng ta hãy cầu xin Chúa mặc khải cho chúng ta điều gì đã xảy ra giữa Ngài và Đức Mẹ trong những năm tháng ở Nhà Tiệc Ly. Ngài sẽ tỏ cho chúng ta biết một số điều kỳ diệu đó—nhưng không phải tất cả, vì chúng ta không thể đủ sức để lĩnh hội tất cả, ngoại trừ một số ít điều thôi—và sự nhận biết này sẽ khiến chúng ta tràn ngập niềm vui và sự ngưỡng mộ.

Ồ! Tôi sẽ hạnh phúc biết bao nếu có thể viết vài bài suy niệm về Tháng Đức Maria, người Nữ Tôn Thờ (Adoratrix)! Cần phải nghiên cứu nhiều, và cầu nguyện nhiều nữa. Hơn nữa, ta cần phải hiểu tâm tình tạ ơn trong tình yêu của Đức Maria. Tôi rất mong muốn điều này, nhưng với một công việc như vậy thì cần phải chuẩn bị kỹ lưỡng hơn.

Chuyển ngữ: Tu sĩ Phê-rô Trịnh Như Cung, sss (kỳ III)

 ____________________________________________________________________________________________

NGƯỜI TÔI TỚ ĐAU KHỔ VÀ THÁNH THỂ

Cuộc Vượt Qua của Người được hiện tại hoá cho chúng ta mỗi ngày trong Thánh Lễ để chúng ta có thể đến với Người để đươc Người chữa lành các vết thương lòng, biến đổi chúng ta nên giống Người và sai chúng ta ra đi tiếp tục thi hành sứ vụ của Người. Chúa Giêsu đang cần chúng ta trở nên hiện thân của Người trong thế gian. 

Đó là lý do tại sao các Giám Mục Hoa Kỳ đề ra Ba Năm Phục hưng Thánh Thể. Mục đích của các ngài là canh tân Hội thánh bằng cách khơi dậy một mối liên hệ sống động với Chúa Giêsu Kitô trong Bí tích Thánh Thể trong mỗi người Công Giáo chúng ta, để những tim đèn đức tin đang thoi thóp được bùng cháy lên thay vì bị trận cuồng phong của chủ nghĩa thế tục dặp tắt. Đồng thời các ngài muốn gợi hứng cho một phong trào của những người Công giáo trên khắp nước Hoa Kỳ, là những người được chữa lành, hoán cải, đào luyện và hợp nhất nhờ gặp gỡ với Chúa Giêsu trong Bí tích Thánh Thể — và sau đó được sai đi truyền giáo “để cho thế gian được sống” vì tất cả chúng ta đều là hiện thân của Người Tôi Tớ Thiên Chúa cho thế gian.

Do đó, chúng ta phải hăng say cùng nhau phục hồi niềm tin vào sự Hiện Diện Thật của Đức Kitô trong Bí tích Thánh Thể và thắp lên ngọn lửa yêu mến Người trong lòng mình và đốt cháy thế gian bằng những ngọn lửa nho nhỏ của mỗi người chúng ta.

Gợi ý để Hồi Tâm

1.      Trong những ngày Tuần Thánh này, Hội Thánh đọc các Bài Ca Người Tôi Tớ trong mỗi Thánh Lễ. Bạn có chú ý lắng nghe và liên hệ những gì bạn nghe với tình yêu tha thiết mà Thiên Chúa dành cho bạn không?

2.      Hãy chú ý đọc các Bài Đọc của Ngôn Sứ Isaia trong tuần này trước khi đi dự Thánh Lễ và suy niệm về chúng trong tương quan với Thánh Thể mà bạn sẽ nhận trong Thánh Lễ.

 

Phaolô Phạm Xuân Khôi (kỳ III và hết)

(HT 6-2-2024)

ĐỨC MẸ THÁNH THỂ THEO THÁNH PHÊ-RÔ GIU-LI-A-NÔ Ê-MA (PETER JULIAN EYMARD)

Chúa mong muốn chúng ta tôn vinh Mẹ nhiều hơn nữa, vì trong suốt cuộc đời trần thế của Ngài, dường như Ngài đã xao lãng việc làm đó. Chắc chắn Chúa đã dành mọi vinh dự cho Mẹ Người trong đời sống riêng tư của Người; nhưng ở nơi công cộng, Ngài đã bỏ Mẹ ở lại phía sau, vì luôn luôn và trước hết Ngài phải khẳng định và duy trì phẩm giá của Ngài là Thiên Chúa. Nhưng bây giờ, Chúa muốn chúng ta, theo một cách nào đó, đền bù cho Đức Trinh Nữ Rất Thánh tất cả những gì Ngài đã không làm cho Mẹ Ngài ở bề ngoài và chúng ta buộc (vì phần rỗi đời đời của chúng ta đang bị đe dọa) phải tôn vinh Mẹ là Mẹ Thiên Chúa và là mẹ của chúng ta.

II. Nhưng với tư cách là những người tôn thờ, chúng ta đặc biệt được thánh hiến để phụng sự Bí tích Thánh Thể, nhờ ơn gọi này mà chúng ta có lòng sùng kính đặc biệt đối với Đức Maria. Là những Tu sĩ Thánh Thể, Nữ Tỳ Thánh Thể, Nữ Tỳ Chúa Ki-tô, Hội viên của Hiệp Hội Thánh Thể, chúng ta tôn thờ Bí tích Thánh Thể theo lời khấn của mình. Đây là tước hiệu đẹp đẽ của chúng ta, được Đức Piô IX chúc phúc. Những người tôn thờ - điều này có nghĩa là gì? Điều đó có nghĩa là chúng ta gắn bó với Con Người đáng tôn thờ của Chúa chúng ta đang sống trong Bí tích Thánh Thể.

Nhưng nếu chúng ta thuộc về Con, thì chúng ta cũng thuộc về Mẹ; nếu chúng ta tôn thờ Chúa Con, chúng ta phải tôn vinh Người Mẹ. Vì vậy, để tiếp tục sống trong ân sủng ơn gọi của mình và tham gia trọn vẹn vào ơn gọi đó, chúng ta buộc phải dành một sự tôn vinh rất đặc biệt cho Đức Trinh Nữ Maria dưới danh hiệu Đức Mẹ của (Chúa Giêsu) Bí Tích Cực Thánh, hay Đức Mẹ Thánh Thể.

Việc sùng kính này vẫn chưa được biết đến nhiều và cũng chưa được định nghĩa rõ ràng trong Giáo hội. Nhưng vì việc sùng kính Đức Maria đi theo việc tôn thờ Chúa Giêsu nên cũng sẽ đi theo những giai đoạn và sự phát triển khác nhau.

Khi chúng ta tôn vinh Chúa trên Thánh Giá, chúng ta cầu nguyện với Đức Mẹ Bảy Sự thương khó. Khi chúng ta tôn kính đời sống vâng phục khiêm tốn, ẩn dật của Chúa tại Nazareth, chúng ta có thể coi Đức Mẹ Đời Sống Ẩn Dật là Gương Mẫu của mình. Đức Trinh Nữ chia sẻ tất cả những kinh nghiệm của Con Mẹ.

Chuyển ngữ: Tu sĩ Phê-rô Trịnh Như Cung, sss (kỳ II)

___________________________________________________________________

NGƯỜI TÔI TỚ ĐAU KHỔ VÀ THÁNH THỂ

Chỉ hiểu được ý nghĩa của các Bài Ca này trong ánh sáng Tân Ước

Sở dĩ chúng ta tin rằng Ngôn Sứ Isaia đã nói về Đức Giêsu Kitô trong những chương này vì chúng ta tin vào Chúa Giêsu.  Chính Người đã tự nhận mình là Đấng Thiên Sai khi Người trở về Nadarét. Sau khi đọc sách Ngôn Sứ Isaia về sứ vụ của Người Tôi Tớ Đau Khổ trong bài ca số 1 ở Chương 42, Người đã cuộn sách lại và về chỗ ngồi. Rồi Người bảo dân chúng: “Hôm nay đọan Kinh Thánh này mà quý vị vừa nghe đã được ứng nghiệm.” Chính vì những người Do Thái ở đó nhận ra rằng Người ám chỉ chính Người là Đấng Thiên Sai mà ngôn sứ Isaia nói đến, nên họ đã kết án Người phạm thượng và lôi đi ném đá (x. Luca 4:16-28).

Còn các môn đệ thì cũng hiểu rất lờ mờ về Người cho đến khi Chúa Thánh Thần hiện xuống.  Chỉ với ơn soi sáng của Chúa Thánh Thần các ngài mới hiểu là các đoạn này nói về Chúa Giêsu vì chỉ có một mình Người là làm trọn từng câu trong các bài ca này, còn các nhân vật Thiên Sai khác chỉ làm tròn một phần nhỏ mà thôi.

Chương 8 của Tông Đồ Công Vụ kể lại chuyện Phó Tế Philipphê gặp quan thái giám Ethiôpia khi ông này đang ngồi trên xe đọc đoạn Isaia 53:7-8. Sau khi Philipphê cắt nghĩa cho ông về Chúa Giêsu thì ông đã xin rửa tội rồi ông hoan hỉ tiếp tục quãng đường (x. Cv 8:26-39).  Sở dĩ Phó Tế Philipphê có thể giúp ông thái giám hiểu đoạn Thánh Kinh này vì ngài đã giải thích nó theo ánh sáng của Đức Kitô.

Người Tôi Tớ Đau Khổ liên hệ với Bí tích Thánh Thể thế nào?

Vì Bí tích Thánh Thể là Chính Chúa Giêsu, Nguồn mạch và Tột đỉnh của đời sống Hội Thánh và mỗi Kitô hữu, nên bất cứ điều gì liên quan đến Chúa Giêsu đều liên quan đến Thánh Thể. Chúng ta sẽ lần lượt khám phá ra mối liên quan này trong từng bài ca một ở những bài tới. Trong chương trình học tập trong tương lai về Chúa Giêsu và Thánh Thể chúng ta sẽ hiểu rõ hơn về điều này.

Thánh Kinh là câu chuyện về tình yêu của Thiên Chúa dành cho chúng ta. Ngài đã tạo dựng chúng ta vì yêu và muốn cho chúng ta được sống với Ngài muôn đời. Nhưng vì Nguyên Tổ phạm tội nên con người trở thành nô lệ của tội lỗi và sự chết. Vì con người không thể tự cứu mình được nên Thiên Chúa đã sai Con Một của Người đến để cứu chuộc chúng ta bằng cách chịu đau khổ và chịu chết thay cho chúng ta. Không những thế, Người còn thiết lập Bí tích Thánh Thể để hiện tại hoá mầu nhiệm này cho mọi thế hệ cho đến muôn đời. Chính vì thế mà chúng ta có thể nói rằng Người Tôi Tớ Đau Khổ ám chỉ Chúa Giêsu trong Bí Tích Thánh Thể. Người đang ở trong các Nhà Tạm trên khắp thế gian câm nín nhìn người ta sỉ nhục Người. Người đang ở trong những chi thể nghèo hèn, nhỏ bé của Người đang bị quẳng ra ngoài lề xã hội. 

Phaolô Phạm Xuân Khôi (kỳ II)

(HT 5-26-2024)

ĐỨC MẸ THÁNH THỂ THEO THÁNH PHÊ-RÔ GIU-LI-A-NÔ Ê-MA

Tháng Đức Maria là tháng của phước lành và ân sủng, vì theo Thánh Bênađô và hầu như tất cả các Thánh, đều bảo đảm với chúng ta rằng mọi ân sủng đến với chúng ta qua Đức Maria. Tháng Đức Maria là một lễ hội liên tục để tôn vinh Mẹ Thiên Chúa, tiếp đến, chuẩn bị cho chúng ta một tháng tốt lành để đón nhận Bí tích Thánh Thể.

I. Ơn gọi của chúng ta mời gọi chúng ta dành sự tôn thờ đặc biệt cho Bí tích Thánh Thể, nhưng không vì thế mà chúng ta giảm bớt lòng tôn sùng Đức Trinh Nữ. Nói cách khác, ai nói rằng: “Bí tích Cực Thánh là đủ cho tôi rồi; tôi không cần Đức Maria” người ấy sẽ phạm tội báng bổ. Trên trái đất này, chúng ta sẽ tìm thấy Chúa Giêsu ở chốn nào nếu không phải là ở trong vòng tay của Mẹ Maria sao? Chẳng phải Mẹ đã ban Bí tích Thánh Thể cho chúng ta đó sao? Chính sự ưng thuận của Mẹ, Ngôi Lời đã Nhập Thể trong cung lòng Mẹ, và đã khai mở một mầu nhiệm cao cả, mầu nhiệm đó là việc đền tạ Thiên Chúa và kết hợp với nhân loại chúng ta mà Chúa Giêsu đã thực hiện trong cuộc đời trần thế của Người, và Người còn tiếp tục trong Bí Tích Thánh Thể.

Không có Mẹ Maria, chúng ta sẽ không bao giờ tìm thấy Chúa Giêsu, vì Mẹ Maria đã chiếm hữu Ngài trong trái tim Mẹ. Chúa Giê-su vui thích ở trong trái tim Mẹ, và những ai muốn biết các nhân đức thâm sâu nhất của Chúa Giê-su, muốn trải nghiệm đặc ân tình yêu thân mật của Ngài, phải tìm kiếm những điều này nơi Đức Maria. Những ai yêu mến Người Mẹ nhân lành đó sẽ tìm thấy Chúa Giêsu trong trái tim thanh khiết của Mẹ.

Không bao giờ chúng ta có thể tách rời Chúa Giêsu khỏi Mẹ Maria được, vì chúng ta chỉ có thể đến với Chúa Giêsu qua Mẹ của Ngài. Hơn nữa, tôi càng xác tín rằng khi chúng ta càng yêu mến Bí tích Thánh Thể thì chúng ta càng phải yêu mến Đức Maria. Chúng ta yêu tất cả những gì bạn chúng ta (là Chúa Giê-su) yêu; cho đến bây giờ, chưa từng có thụ tạo nào được Thiên Chúa yêu thương hơn, chưa từng có một người mẹ nào được con mình yêu thương dịu dàng hơn là Chúa Giêsu yêu thương Mẹ Ngài là Đức Maria.

Ồ vâng, Chúa chúng ta sẽ rất đau lòng nếu chúng ta, những tôi tớ của Bí tích Thánh Thể, không hết lòng tôn kính Đức Maria, bởi vì Mẹ là Mẹ của Người! Chúa chúng ta mắc nợ Mẹ của Người mọi sự ngay từ lúc Nhập Thể, trong nhân tính của Ngài. Mẹ đã ban cho Ngài thân xác mà Ngài đã tôn vinh Chúa Cha bằng chính thân xác đó. Ngài đã cứu độ chúng ta cũng bằng chính thân xác đó, và Ngài tiếp tục nuôi dưỡng và cứu độ thế giới bằng Bí tích Thánh Thể, cũng chính là thân xác đó.

Chuyển ngữ: Tu sĩ Phê-rô Trịnh Như Cung, sss (kỳ I)

 _____________________________________________________________________________________


NGƯỜI TÔI TỚ ĐAU KHỔ VÀ THÁNH THỂ

Người Tôi Tớ Đau Khổ là chủ đề của bốn bài ca trong sách Ngôn Sứ Isaia (Is 42:1-4; 49:1-7; 50:4-11; 52:13-53).  Bốn bài ca này mô tả về sứ vụ và thân phận của một nhân vật bí ẩn trong tương lai, mà nhiều người Do Thái coi là Đấng Thiên Sai hay Mêsia.  Ngôn sứ không cho biết Người Tôi Tớ này là ai, nhưng cho chúng ta biết nhiều chi tiết về Người này để hậu thế có thể nhận ra khi Người đến. Cho đến hôm nay người Do Thái vẫn còn tranh luận với nhau về Người Tôi Tớ này và vẫn còn mong đợi Người đến để giải thoát họ.  Còn các Kitô hữu thì tin rằng Đức Kitô chính là Người Tôi Tớ Đau Khổ mà Ngôn Sứ Isaia đã nói đến. Bài này muốn giới thiệu mối liên hệ giữa người Tôi Tớ này với Bí tích Thánh Thể.

Người Tôi Tớ Đau Khổ là ai?

Ngôn sứ Isaia không nói rõ Người này là ai, nhưng mỗi bài ca cho chúng ta thêm một ít chi tiết để chúng ta có thể nhận ra Người khi Người đến. Người Do Thái sở dĩ không nhận ra Người vì họ mong chờ một Đấng Thiên Sai theo nghĩa đen, là Đấng sẽ giải thoát họ khỏi ách đô hộ của quyền lực thế trần và thiết lập một triều đại trường cửu mà trong đó họ sẽ làm bá chủ như triều đai của vua Đavít. Nhưng nếu đọc lại những đoạn văn này theo nghĩa thiêng liêng và theo ánh sáng của Tân Ước, thì chỉ một mình Chúa Giêsu là đã làm tròn mọi sấm ngôn trong cả bốn bài ca của Ngôn Sứ Isaia. Người không đến để thống trị nhân loại bằng cách thiết lập một vương quốc trần thế, nhưng Người đến để đền tội thay cho nhân loại và giải thoát nhân loại khỏi ách tội lỗi cùng thiết lập một triều đại của Thiên Chúa đến muôn đời.

Nghĩa Văn Tự của các Bài Ca Người Tôi Tớ

Trước khi chúng ta đi vào giải thích của Kitô giáo về Người Tôi Tớ Đau Khổ, chúng ta nên hiểu nghĩa văn tự hay nghĩa đen của những bài ca này, đặc biệt là Chương 53 của Isaia.

Người Do Thái ngay từ những thế kỷ đầu đã hiểu theo nghĩa đen là Người Tôi Tớ Đau Khổ này chính là Dân Israel hay bất cứ một vị ngôn sứ nào chịu đau khổ vì tội của dân, kể cả ngôn sứ Isaia. Một số học giả Do Thái công nhận rằng chương này nói về một vị Thiên Sai trong tương lai, nhưng họ xác quyết rằng Chúa Giêsu không phải là vị Thiên Sai ấy vì Người đã thất bại trong việc giải phóng dân Israel khỏi ách thống trị của đế quốc Rôma. Hiện nay họ vẫn tiếp tục mong chờ một Đấng Thiên Sai theo nghĩa đen này.

Nếu không tin vào Chúa Giêsu thì rất khó mà nhìn nhận Người là Đấng Thiên Sai mà Ngôn Sứ Isaia nói đến trong bốn bài ca về Người Tôi Tớ Đau Khổ. Thực ra các giải thích của người Do Thái không phải là không có lý, nhưng họ vẫn chưa thực sự hiểu Đấng Thiên Sai này là ai. Sở dĩ họ không nhận ra Chúa Giêsu là Đấng Thiên Sai vì họ chỉ hiểu theo nghĩa đen và ngừng lại ở đó.

 

Phaolô Phạm Xuân Khôi (kỳ I)


(HT 5-19-2024)

BÀI CA NGƯỜI TÔI TỚ THỨ BA (Is 50:4-11)

Chúa Giêsu bồi dưỡng chúng ta bằng cách ban chính Thịt Người làm của ăn và Máu Người làm của uống cho chúng ta. Người quả quyết, Tôi là bánh hằng sống từ trời xuống. Ai ăn bánh này, sẽ được sống muôn đời. Và bánh tôi sẽ ban tặng, chính là thịt tôi đây, để cho thế gian được sống.” (Ga 6 :51). Không những thế, Người còn nói, “Tôi và Chúa Cha là một.” (Ga 10 :30). Như thế nghĩa là Chúa Giêsu cũng là Đức Chúa và là Thiên Chúa mà chúng ta phải tôn thờ như Chúa Cha vì Người là một với Chúa Cha. Vì muốn làm nơi nương tựa cho chúng ta mà Người đã tự giam mình trong các Nhà Tạm trên khắp thế gian để được gần gũi, an ủi và nâng đỡ chúng ta cách cụ thể.  Cho nên gặp gỡ Thánh Thể là gặp gỡ Đức Kitô, mà gặp gỡ Đức Kitô là gặp gỡ Thiên Chúa.

Chúa Giêsu không muốn chúng ta chỉ gặp Người ở nhà thờ mà còn muốn chúng ta sống như hiện thân của Người trong thế gian như Người nói “Thầy đã nêu gương cho các con, để các con cũng làm như Thầy đã làm cho các con.” (Ga 13:15). Chúa Giêsu đã đem lửa Tình Yêu xuống thế gian và và Người muốn lửa ấy cháy bùng lên (x. Lc 12:49). Chính chúng ta phải trở thành những ngọn lửa Tình Yêu của Chúa sau khi gặp Người trong Thánh Thể để ra đi đốt cháy mọi tội lỗi trên thế gian cũng bằng ngọn lửa Tình Yêu ấy.

Đó chính là lý do tại sao các Giám Mục Hoa Kỳ đã đề ra Ba Năm Phục hưng Thánh Thể. Mục đích của các ngài là canh tân Hội thánh bằng cách khơi dậy một mối liên hệ sống động với Chúa Giêsu Kitô trong Bí tích Thánh Thể trong mỗi người Công Giáo chúng ta, để chúng ta trở thành những môn đệ truyền giáo của Người. Đồng thời các ngài muốn gợi hứng cho một phong trào của những người Công giáo trên khắp nước Hoa Kỳ, là những người được chữa lành, hoán cải, đào luyện và hợp nhất nhờ gặp gỡ với Chúa Giêsu trong Bí tích Thánh Thể — và sau đó đem ánh sáng của Chúa đến cho những kẻ hiện đang đi trong bóng tối, không một tia sáng nào chiếu rọi, để họ tin tưởng vào danh ĐỨC CHÚA và tìm nương tựa nơi Người.

Câu hỏi để hồi tâm

Chúng ta hãy dành một ít thì giờ đọc lại Bài Ca Thứ Ba và hồi tâm bằng cách suy nghĩ và trả lời những câu hỏi sau:

1)      Có khi nào bạn bị hàm oan hay hiểu lầm trong đời, nhất là khi phục vụ trong các đoàn thể của giáo xứ chưa? Bạn có phản ứng gì với những hiểu lầm hay hàm oan ấy?

2)      Thánh Phaolô nói: “Có Thiên Chúa bênh đỡ chúng ta, ai còn chống lại được chúng ta?" (Rm 8 :31). Có khi nào bạn nghi ngờ sự trợ giúp của Thiên Chúa trong đời chưa? Khi đó bạn cảm thấy thế nào?

3)      Thất bại lớn nhất trong đời bạn là gì?  Bạn học được điều gì về thất bại ấy? Sau khi đọc về Người Tôi Tớ Đau Khổ ở trên, bạn có rút ra được bài học nào mới từ thất bại ấy không?

4)      Làm sao Bí tích Thánh Thể có thể giúp bạn biến những đau khổ và thất bại thành phương tiện cứu độ cho mình và người khác? 

 

Phaolô Phạm Xuân Khôi (kỳ III và hết)

 

____________________________________________________________________________

Thánh Lễ Là Suối Nguồn của Lòng Thương Xót

Thánh Giáo Hoàng Phaolô VI, vang vọng lời của Thánh Faustina, nhấn mạnh tầm quan trọng của việc tôn vinh và tôn thờ Chúa Giêsu trong Bí Tích Thánh Thể. Ngài viết “Bí tích Thánh Thể được lưu giữ trong các nhà thờ hoặc nhà nguyện để làm trung tâm tinh thần của một cộng đồng tu trì hoặc một cộng đồng giáo xứ, thực ra của toàn thể Hội Thánh và toàn thể nhân loại, vì nó chứa đựng, dưới bức màn hình bánh, Đức Kitô là Đầu vô hình của Hội Thánh, Đấng Cứu chuộc thế gian, trung tâm của mọi tâm hồn, ‘bởi Người mà vạn vật hiện hữu và bởi Người mà chúng ta hiện hữu’” (Mysterium Fidei, 68).

Đó chính là lý do tại sao các Giám Mục Hoa Kỳ đề ra Ba Năm Phục hưng Thánh Thể. Mục đích của các ngài là canh tân Hội thánh bằng cách khơi dậy một mối liên hệ sống động với Chúa Giêsu Kitô trong Bí tích Thánh Thể trong mỗi người Công Giáo chúng ta, để chúng ta trở thành những nơi cư ngụ sống động của Người. Đồng thời các ngài muốn gợi hứng cho một phong trào của những người Công giáo trên khắp nước Hoa Kỳ, là những người đã được chữa lành, hoán cải, đào luyện và hợp nhất nhờ gặp gỡ Chúa Giêsu Kitô trong Bí tích Thánh Thể — và sau đó được sai đi “làm những nhà tạm sống động có chân của Chúa Thánh Thể trên thế gian,” vì tất cả chúng ta đều là hiện thân của Lòng Thương Xót của Người.

Cho nên không phổ biến rộng rãi kế hoạch Phục hưng Thánh Thể là tắc trách với lời mời gọi tha thiết của Chúa vì đã không tạo cơ hội cho giáo dân học biết về Tình Yêu và Lòng Thương Xót của Chúa để họ thực sự gặp gỡ Chúa Giêsu trong Bí tích Thánh Thể và được biến đổi. Làm như thế có nghĩa là để họ tiếp tục đi Lễ, Chầu Thánh Thể, và thậm chí rước Lễ vì thói quen và sau đó để Chúa nằm cô đơn trong chính tâm hồn nguôi lạnh của họ, chẳng khác gì coi Chúa là một “vật vô tri” ngay sau khi rước Lễ.

Kết Luận

Tóm lại, những lời trong Nhật Ký của Thánh Faustina cung cấp một sự hiểu biết sâu xa về các mầu nhiệm của Thánh Lễ, mời gọi các tín hữu dấn thân vào cuộc hành trình biến đổi qua việc gặp gỡ Đức Kitô hằng sống trong Bí tích Thánh Thể. Qua lời nói của Chị, chúng ta được nhắc nhở về thực tại sâu xa của Sự Hiện Thật và quyền năng biến đổi của việc gặp gỡ Đức Kitô trong Bí Tích Thánh Thể.

Khi đề ra kế hoạch ba năm Phục hưng Thánh Thể, các Giám Mục Hoa Kỳ cũng không làm gì khác hơn là tiếp tục sứ vụ mà Chúa Giêsu đã trao phó cho Thánh Faustina. Các Giám mục mong ước rằng công việc Phục hưng Thánh Thể không chấm dứt sau ba năm rồi đi vào quên lãng, mà trở thành một phong trào lan rộng khắp nơi như phong trào phổ biến Lòng Thương Xót Chúa. Các ngài đã cung cấp một kho dữ kiện mà mọi người, nhất là các mục tử và các phó tế cũng như giáo lý viên, có thể dùng để phục hưng lòng sùng kính Người trong trang web eucharisticrevival.org và phuchungthanhthe.org.

Khi chúng ta đáp lại lời mời gọi của Chị Thánh Faustina và của các Giám mục Hoa kỳ để đón nhận những cuộc gặp gỡ mật thiết với Đức Kitô với lòng sùng kính nhiệt thành, tâm hồn chúng ta được canh tân và biến đổi bởi tình yêu và Lòng Thương Xót vô biên của Người trong Bí tích Thánh Thể. Và sau mỗi Thánh Lễ chúng ta trở thành những nhà tạm sống động đem Chúa Thánh Thể vào thế gian qua những việc làm thương xót của mình.

Câu Hỏi Để Suy Nghĩ

1.      Bạn có thói quen lần Chuỗi Thương Xót không ? Nếu có thì mục đích của bạn khi lần Chuỗi Thương Xót là gì ?

2.      Tại sao Chúa Giêsu lại than phiền rằng, “Chúng để Ta một mình và bận rộn với những việc khác. Chúng coi Ta như một vật vô tri” ? Có khi nào bạn để Chúa một mình sau khi rước Lễ không ? Bạn sẽ dốc lòng đốu xử với Chúa ra sao sau khi rước Lễ ?

3.      Mục đích của các “nhà tạm” là gì ? Bạn phải làm gì để trở nên một “nhà tạm” sống động của Chúa giữa trần gian ?

Phaolô Phạm Xuân Khôi (kỳ III và hết)

(HT 5-12-2024)

BÀI CA NGƯỜI TÔI TỚ THỨ BA (Is 50:4-11)

Người Tôi Tớ can đảm đứng trước mặt những kẻ nhục mạ và buộc tội Người vì biết rằng chúng sẽ mục đi như chiếc áo bị mối ăn, trong khi đó sự trợ giúp của Thiên Chúa thì trường tồn. 

Này, tất cả chúng sẽ mục đi như chiếc áo, và sẽ bị mối ăn.

Lời Khuyên và Cảnh Báo của Ngôn Sứ dành cho Chúng Ta

Ở đây Ngôn Sứ Isaia kêu gọi tất cả những ai kính sợ Đức Chúa hãy nghe tiếng Tôi Tớ của Ngài.  Người là ánh sáng chiếu soi cho những ai đang đi trong bóng tối và cũng là nơi nương tựa của họ.

10Ai trong các ngươi kính sợ ĐỨC CHÚA,

nghe theo tiếng tôi tớ của Người,

ai đi trong bóng tối, không một tia sáng nào chiếu rọi,

hãy tin tưởng vào danh ĐỨC CHÚA

và tìm nương tựa nơi Thiên Chúa mình thờ.

Những ai chống đối Thiên Chúa và Người Tôi Tớ của Ngài thì giống như những kẻ tự phóng hoả đốt mình. Đây cũng là lời cảnh cáo cho mỗi người chúng ta.

11Phần tất cả các ngươi, những ai đã phóng hoả,

dùng mũi tên lửa làm vũ khí, hãy đâm đầu vào đống lửa

chính các ngươi đã đốt lên, vào làn tên các ngươi đã châm lửa.

Những gì các ngươi đang phải chịu đều là do chính tay Ta:

các ngươi sẽ nằm xuống trong đớn đau cùng cực.

Người Tôi Tớ và Thánh Thể

Bài Ca này nói về việc Người Tôi Tớ hoàn toàn tin tưởng và vâng phục Thiên Chúa. Đồng thời Ngôn sứ cũng khuyên chúng ta “hãy tin tưởng vào danh ĐỨC CHÚA và tìm nương tựa nơi Thiên Chúa mình thờ.” Có nghĩa rằng hãy tin và nương tựa nơi Ngài. Nhưng làm sao để tin tưởng và nương tựa Ngài khi Ngài là Đấng Vô hình ?

Chính vì thế mà Thiên Chúa đã nỗi đã ban Con Một, để “ai tin vào Con của Người thì khỏi phải chết, nhưng được sống muôn đời” (Ga 3 :16). Trước khi Chúa Giêsu xuống trần thì tất cả thế gian đều “đi trong bóng tối, không một tia sáng nào chiếu rọi.” Chúa Giêsu là Ngôi Lời Nhập Thể, là Tiếng của Thiên Chúa nói với chúng ta qua tiếng của Tôi Tớ Ngài trong con người Chúa Giêsu thành Nadareth. Trước Bữa Tiệc Ly, Chúa Giêsu đã giảng một bài rất dài mà nhiều học giả cho rằng đó là những lời trăng trối của Người cho các môn đệ, là những vị sẽ tiếp tục sứ vụ Tôi Tớ này trên thế gian.

Mục đích thứ nhất của việc làm Người Tôi Tớ của Chúa Giêsu là để làm gương cho chúng ta. Trong thế giới ngày nay, khi chủ nghĩa cá nhân và tương đối đang thịnh hành, mẫu gương của Người Tôi Tớ Đau Khổ là mẫu gương lội ngược dòng, là mẫu gương phản lại nền văn hoá hiện nay.  Mẫu gương này rất khó cho một số người chấp nhận. Nhưng nếu chúng ta nghe lời Người Tôi Tớ Giêsu “Nếu Thầy là Chúa, là Thầy, mà còn rửa chân cho các con, thì các con cũng phải rửa chân cho nhau. Thầy đã nêu gương cho anh em, để các con cũng làm như Thầy đã làm cho anh em.”các con.” (Ga 13 : 14-15), thì Chúa sẵn sàng chịu đựng tất cả nghịch cảnh trong đời Người để làm gương cho chúng ta noi theo.

Mục đích thứ hai của Người là để trờ thành nơi nương tựa vững chắc cho chúng ta đến muôn đời. Không những làm gương cho chúng ta, Chúa Giêsu còn muốn ghánh đỡ những đau khổ của chúng ta. Người phán, "Tất cả những ai đang vất vả mang gánh nặng nề, hãy đến cùng tôi, tôi sẽ cho nghỉ ngơi bồi dưỡng. Anh em hãy mang lấy ách của tôi, và hãy học với tôi, vì tôi có lòng hiền hậu và khiêm nhường. Tâm hồn anh em sẽ được nghỉ ngơi bồi dưỡng. Vì ách tôi êm ái, và gánh tôi nhẹ nhàng." (Mt 11 :28-30).


_______________________________________________________________________________

Thánh Lễ Là Suối Nguồn của Lòng Thương Xót

Gặp Gỡ Đức Kitô Hằng Sống và Hay Thương Xót trong Thánh Thể

Trọng tâm của mầu nhiệm Thánh Lễ là thực tại về Sự Hiện diện Thật của Chúa Giêsu Kitô trong bánh và rượu đã được thánh hiến. “Sự Diện diện Thật” này có nghĩa gì? Điều đó có nghĩa là trong Bí tích Thánh Thể, chúng ta gặp gỡ không phải một vật vô tri, không chỉ là một mẩu bánh tượng trưng, mà là một Con Người đang Sống: Chúa Giêsu Kitô. Bí tích Thánh Thể thực sự không phải là “nó”, mà là “Người”. Đó không phải là điều gì đó mà là Ai đó, Đấng Cứu Chuộc Hằng Sống của chúng ta. Có lẽ đôi khi chúng ta nhầm lẫn về điều này vì Hội Thánh thường nói về các yếu tố của Thánh Thể như “Mình” và “Máu” Đức Kitô, như thể chỉ có các yếu tố vật chất của Mình và Máu Chúa hiện diện cho chúng ta. Nhưng những từ “Mình” và “Máu” đó chỉ là một cách nói bình dân mà thôi. Thực ra, Sách Giáo lý dạy, “Trong Bí tích Thánh Thể cực thánh, Mình và Máu cùng với linh hồn và thần tính của Chúa chúng ta là Đức Giêsu Kitô, và như vậy là Đức Kitô toàn thể (totus Christus), hiện diện một cách đích thực, thật sự, và theo bản thể ” (câu 1374). Như thế, Chúa Giêsu hiện diện hoàn toàn với chúng ta trong Bí tích Thánh Thể, trong sự trọn vẹn của thiên tính và nhân tính của Người, dưới các dấu chỉ bề ngoài là bánh và rượu.

Những cuộc gặp gỡ của Thánh Faustina với Chúa Giêsu làm nổi bật chân lý sâu xa này. Thánh Nữ ghi lại những lời của Chúa: “Ta mong muốn kết hợp Ta với linh hồn con người… Khi Ta đến với trái tim con người lúc Rước Lễ, tay Ta tràn đầy mọi loại ân sủng.” (Nhật Ký 1385). Ở đây, Thánh Faustina tiết lộ lòng tha thiết khao khát ngự trong chúng ta của Chúa Giêsu để ban tặng cho chúng ta Tình Yêu và Lòng Thương Xót chứa chan của Người.

Nhật ký của Thánh Faustina cũng ghi lại lời than thở đau thương của Chúa Giêsu về sự thờ ơ của các linh hồn khi Rước lễ. Chúa nói tiếp, “Nhưng linh hồn thậm chí không chú ý đến Ta. Chúng để Ta một mình và bận rộn với những việc khác. Chúng coi Ta như một vật vô tri.” Bất chấp mong ước tha thiết ban ân sủng cho họ của Người, nhiều người lên rước Lễ chỉ vì thói quen mà không nghĩ gì đến Người, không biết gì về tình yêu và Lòng Thương Xót vô biên của Người, coi Người như một vật vô tri.

Hơn nữa, Thánh Faustina còn nhấn mạnh đến quyền năng biến đổi của việc Rước Lễ, khi tuyên bố, “Tất cả những điều tốt lành trong tôi đều do sự Hiệp Thông Thánh (rước Lễ)” (Nhật Ký 1392). “Đây là toàn thể bí mật về sự thánh thiện của tôi” (Nhật Ký 1489). Qua việc rước Lễ, chúng ta được mời gọi hiệp thông một cách mật thiết với Thiên Chúa hằng sống, Đấng mong muốn củng cố và nuôi dưỡng tâm hồn chúng ta bằng ân sủng của Người.

Thánh Lễ, như Thánh Faustina tiết lộ trong các câu 1447 và 1385, không chỉ đơn thuần là một nghi lễ hay một biểu tượng mà là một cuộc gặp gỡ thân mật với Đức Kitô Hằng sống. Chị viết, “Thánh Thể không chỉ là một 'vật vô tri' hay một biểu tượng vô hồn. Đúng hơn, Thánh Thể là chính Chúa Giêsu, Chúa hằng sống và là Đấng Cứu Độ của chúng ta.” Trong mỗi Thánh Lễ, Chúa Giêsu hiến mình cho chúng ta một cách độc đáo và kỳ diệu, mời gọi chúng ta hiệp thông với Trái Tim nhân hậu của Người.

Hơn nữa, Thánh Faustina nhấn mạnh đến tầm quan trọng của nhà tạm như nơi cư ngụ của sự hiện diện của Đức Kitô dưới trần. Chính Chúa Giêsu đã bày tỏ lòng mong ước được các linh hồn đến viếng thăm Người trong nhà tạm, không phải vì Người, mà vì ước ao an ủi, thêm sức và ban ân sủng của Người cho những ai tìm kiếm Người. Thánh Faustina viết, “Trái Tim Ta tràn ngập Lòng Thương Xót cả thể dành cho các linh hồn… Ta mong muốn ban các ân sủng của Ta cho các linh hồn” (Nhật Ký 367). Ở đây, Chị nhắc nhở chúng ta về sự mật thiết sâu đặm của cuộc gặp gỡ Thánh Thể, ở đó Chúa Giêsu chờ đợi để đón chúng ta vào vòng tay yêu thương của Người.

Phục hưng Thánh Thể là Đáp lại Lời Mời Gọi Tha Thiết của Chúa Giêsu

Chúa Giêsu, qua Thánh Faustina, gửi lời mời chân thành đến các linh hồn đến thăm Người trong Bí Tích Thánh Thể. Người khao khát tuôn đổ Tình Yêu Thương Xót của Người cho những ai tìm kiếm Người và mang lại niềm an ủi cho Thánh Tâm khao khát của Người. Trong một thế giới bị bao trùm bởi sự thờ ơ và tục hoá của chúng ta hôm nay, thông điệp của Thánh Faustina vọng lên khắp nơi, kêu gọi các tín hữu đáp lại lời mời gọi của Đức Kitô với một lòng sùng kính và tôn thờ nhiệt thành.


Phaolô Phạm Xuân Khôi (kỳ II)

(HT 5-5-2024)

BÀI CA NGƯỜI TÔI TỚ THỨ BA (Is 50:4-11)

Bài Ca này nói về cách Thiên Chúa chuẩn bị cho Người Tôi Tớ của Ngài trước khi Người công khai rao giảng và thái độ của Người Tôi Tớ trong lúc rao giảng. Hội Thánh đọc Bài Ca này trong Thánh Lễ Thứ Tư Tuần Thánh để chuẩn bị tâm hồn chúng ta cho Tam Nhật Thánh.

Việc Đào Luyện của Người Tôi Tớ

Để chuẩn bị cho Người Tôi Tớ trong sứ vụ của mình, Thiên Chúa đã đào luyện Người như minh sư đào luyện một môn đệ.  Có người sẽ thắc mắc là “nếu Người Tôi Tớ là Chúa Giêsu, mà Chúa Giêsu là Thiên Chúa, thì tại sao cần được đào luyện?”  Thực ra, Chúa Giêsu không cần được đào luyện, nhưng khi chấp nhận thân phận của Người Tôi Tớ, Người cũng chấp nhận: “hoàn toàn trút bỏ vinh quang mặc lấy thân nô lệ, trở nên giống phàm nhân, sống như người trần thế” (Phil 2:7), ngoại trừ tội lỗi, để làm gương cho chúng ta (x. Ga 13:14-15).  Không những thế, Chúa Giêsu để cho Thiên Chúa sửa dậy, không phải vì Người bất toàn, nhưng vì Người chịu sửa dạy thay cho chúng ta, người chịu phạt thay cho tội lỗi của toàn thể nhân loại, đồng thời cũng để nâng đỡ chúng ta

4ĐỨC CHÚA là Chúa Thượng

đã cho tôi nói năng như một người môn đệ,

để tôi biết lựa lời nâng đỡ ai rã rời kiệt sức.

Sáng sáng Người đánh thức, Người đánh thức tôi

để tôi lắng tai nghe như một người môn đệ.

Thái Độ của Người Tôi Tớ

Trong trường môn đệ, điều quan trọng là người môn đệ biết vâng phục huấn luyện viên.  Đau khổ và sỉ nhục là những gì cần thiết cho người môn đệ. Đau khổ giúp họ thêm mạnh mẽ. Sỉ nhục giúp họ thêm kiên trì. Kiên nhẫn là một đức tính rất cần thiết cho một môn đệ truyền giáo. Tất cả những gì Ngôn Sứ Isaia nói ở đây đã xảy ra cho Chúa Giêsu trong cuộc khổ nạn của Người, và Chúa Giêsu đã “không cưỡng lại, cũng chẳng tháo lui”.

5ĐỨC CHÚA là Chúa Thượng đã mở tai tôi,

còn tôi, tôi không cưỡng lại, cũng chẳng tháo lui.

6Tôi đã đưa lưng cho người ta đánh đòn,

giơ má cho người ta giật râu.

Tôi đã không che mặt khi bị mắng nhiếc phỉ nhổ.

Người dám đương đầu với tất cả mọi quân thù cùng mọi khó khăn thử thách vì biết rằng Thiên Chúa ở với Người và phù trợ Người.  Mọi thử thách và đau khổ không làm cho Người Tôi Tớ nản lòng, bỏ cuộc và than trách Thiên Chúa. Vì ý thức rằng mình làm mọi sự vì Thiên Chúa, nên Người Tôi Tớ can đảm chấp nhận mọi chống đối và bách hại của người đời.

7Có ĐỨC CHÚA là Chúa Thượng phù trợ tôi,

vì thế, tôi đã không hổ thẹn,

vì thế, tôi trơ mặt ra như đá.

Tôi biết mình sẽ không phải thẹn thùng.

Bị người đời nghi ngờ, lăng nhục và kết án oan, Người vẫn chấp nhận vì biết rằng mình vô tội và Thiên Chúa sẽ minh oan cho mình. Vì thế, Người dám mạnh bạo tuyên bố rằng: “có ĐỨC CHÚA là Chúa Thượng phù trợ tôi, ai còn dám kết tội?

8Đấng tuyên bố rằng tôi công chính, Người ở kề bên.

Ai tranh tụng với tôi? Cùng nhau ta hầu toà!

Ai muốn kiện cáo tôi? Cứ thử đến đây coi!

9Này, có ĐỨC CHÚA là Chúa Thượng phù trợ tôi, ai còn dám kết tội?

Người Tôi Tớ can đảm đứng trước mặt những kẻ nhục mạ và buộc tội Người vì biết rằng chúng sẽ mục đi như chiếc áo bị mối ăn, trong khi đó sự trợ giúp của Thiên Chúa thì trường tồn. 

Này, tất cả chúng sẽ mục đi như chiếc áo, và sẽ bị mối ăn.

-----------------------------------------------------------------------------------------------

Thánh Lễ Là Suối Nguồn của Lòng Thương Xót

Chúng ta sắp sửa kết thúc Năm Phục hưng Giáo Xứ. Trong năm này, các Giám mục Hoa Kỳ tha thiết kêu gọi các Cha Xứ không những tạo điều kiện cho các cá nhân học hỏi để hiểu biết tình yêu của Chúa Giêsu trong Bí tích Thánh Thể mà còn tạo nhiều cơ hội để giáo dân của mình có thể gặp gỡ Người một cách cá nhân ngõ hầu được Người chữa lành và biến đổi.

Lễ kính Lòng Chúa Thương Xót Chúa là một dịp để chúng ta đi sâu vào Mầu nhiệm Thánh Thể qua một số mặc khải của Chúa Giêsu cho Thánh Faustina. Trong những trang Nhật ký của Thánh Nhân, chúng ta gặp những lời mời gọi tha thiết để đào sâu Mầu nhiệm Thánh Lễ - một cuộc hành trình thiêng liêng cho thấy chiều sâu của Lòng Thương Xót Chúa. Có thể nói là trong Nhật ký của Thánh Faustina, chúng ta khó mà có thể tách rời Mầu Nhiệm Thánh Thể ra khỏi Lòng Thương Xót Chúa.

Mục đích của bài này là tóm lược một số điều cốt yếu mà Chúa Giêsu mặc khải cho Thánh Faustina về Thánh Thể trong tương quan với kế hoạch Phục hưng Thánh Thể của Hội Đồng Giám Mục Hoa Kỳ.

Thánh Lễ là Suối Nguồn của Lòng Thương Xót

Nhật ký của Thánh Faustina đưa ra một cái nhìn thoáng qua về mầu nhiệm cao cả đầy kinh ngạc diễn ra trong Thánh Lễ. Chị viết, “Một mầu nhiệm cao cả được hoàn thành trong Thánh Lễ. Chúng ta phải lắng nghe và thông phần vào Cái Chết này của Chúa Giêsu với lòng sùng kính lớn lao như thế nào” (Nhật Ký, 914). Ở đây, Thánh Faustina nhấn mạnh đến ý nghĩa sâu xa của Thánh Lễ như một cuộc gặp gỡ thánh thiêng với Mầu nhiệm Vượt Qua, là Mầu nhiệm Tình yêu Hy sinh của Đức Kitô hiện diện trong Bí tích Thánh Thể. Đây cũng là điều mà các Giám mục Hoa Kỳ nhấn mạnh trong Phục hưng Thánh Thể.

Sách Giáo Lý dạy rằng “Bí tích Thánh Thể là nguồn mạch và tột đỉnh của toàn thể đời sống Kitô hữu. Những Bí tích khác cũng như mọi thừa tác vụ trong Hội Thánh, và các hoạt động tông đồ, đều gắn liền với Bí tích Thánh Thể và quy hướng về bí tích đó. Thật vậy, phép Thánh Thể Chí Thánh chứa đựng toàn bộ của cải thiêng liêng của Hội Thánh, đó là chính Đức Kitô, Chiên Vượt Qua của chúng ta” (câu 1324).

Đức Giáo Hoàng Lêo XIII, khi nhìn nhận sự phong phú của tình yêu thương xót của Thiên Chúa chứa đựng trong Bí tích Thánh Thể, đã dạy rằng chỉ trong Bí tích Thánh Thể mới chứa đựng sự phong phú đáng chú ý và hàng loạt phép lạ, tất cả mọi thực tại siêu nhiên. Giáo huấn này nhấn mạnh đến bản chất toàn diện của Thánh Lễ, ở đó toàn thể Tình Yêu đầy Thương Xót của Thiên Chúa được tỏ bày. Công đồng Trentô đã khẳng định điều này rằng Thánh Lễ là nguồn mạch của mọi ân sủng, bao gồm mọi phúc lành siêu nhiên được ban cho nhân loại. Thật vậy, mọi yếu tố của Lòng Nhân Lành của Thiên Chúa, từ Chúa Ba Ngôi đến Đức Trinh Nữ Maria, đều hiện diện trong Bí tích Thánh Thể, khiến Thánh Lễ trở thành suối nguồn của Lòng Thương Xót.

 

Phaolô Phạm Xuân Khôi (kỳ I)

(HT 28-4-2024)

BÀI CA NGƯỜI TÔI TỚ THỨ HAI (49:1-6)

Chúa không hứa cho chúng ta những thành công dễ dàng, nhưng muốn chúng ta chia sẻ cả những thất bại của Người.  Thất bại là những bài học để giúp mài gươm thêm bén và cung thêm nhọn mà thôi. Điều quan trọng là làm theo Thánh Ý Chúa. Chúa muốn chúng ta là những tôi trung chỉ biết làm theo ý Chúa và Người sẽ cung cấp mọi sự cho chúng ta.

Không những thế, Chúa Giêsu đang đồng hành với chúng ta trong suốt cuộc đời qua các Bí tích, nhất là Bí tích Thánh Thể. Trong Bí tích Thánh Thể, Chúa Giêsu ban Chính Thịt Máu của Người làm lương thực hằng ngày cho chúng ta. Người luôn ở bên cạnh chúng ta cùng với Chúa Cha và Chúa Thánh Thần để an ủi và nâng đỡ chúng ta trên đường sứ vụ. Khi chúng ta vấp ngã, Người sẵn sáng tha thứ cho chúng ta và luôn kiên nhẫn chờ đợi chúng ta trở về với Người. Miễn là chúng ta biết tìm đến với Người.

Đó chính là lý do tại sao các Giám Mục Hoa Kỳ đề ra Ba Năm Phục hưng Thánh Thể. Mục đích của các ngài là canh tân Hội thánh bằng cách khơi dậy một mối liên hệ sống động với Chúa Giêsu Kitô trong Bí tích Thánh Thể trong mỗi người Công Giáo chúng ta, để chúng ta trở thành những môn đệ truyền giáo của Người. Đồng thời các ngài muốn gợi hứng cho một phong trào của những người Công giáo trên khắp nước Hoa Kỳ, là những người được chữa lành, hoán cải, đào luyện và hợp nhất nhờ gặp gỡ với Chúa Giêsu trong Bí tích Thánh Thể — và sau đó được sai đi “làm ánh sáng muôn dân và đem ơn cứu độ của Người đến tận cùng cõi đất,” vì tất cả chúng ta đều là hiện thân của Người Tôi Tớ Thiên Chúa cho thế gian.

Câu hỏi để hồi tâm

Chúng ta hãy dành một ít dây phút đọc lại Bài Ca Thứ Hai và hồi tâm bằng cách suy nghĩ và trả lời những câu hỏi sau:

1)      Bạn có ý thức rằng Thiên Chúa gọi bạn từ trong lòng mẹ và trao cho bạn một sứ vụ đặc biệt không? Sứ vụ của bạn là gì?  Việc ý thức được sứ vụ ấy có giúp bạn dễ dàng thắng vượt mọi khó khăn không?

2)      Tại sao “đau khổ” lại là một phần cần thiết của việc làm môn đệ của Chúa? Bí tích Thánh Thể làm gì để giúp bạn vượt qua những đau khổ ấy?

3)      Khi nghĩ đến các đau khổ mà bạn đang phải chịu với những gì bạn đã học về Hy tế Thánh Thể, bạn có nhận ra yếu tố cứu độ ở đó không? Tại sao? Bạn dâng hiến đời mình như một của lễ hy sinh đẹp lòng Thiên Chúa qua Bí tích Thánh Thể ra sao?

 

Phaolô Phạm Xuân Khôi (kỳ III và hết)

Lần Chuỗi Lòng Thương Xót Chúa Là Dâng Hy Tế Thiêng Liêng

Chính vì thế để đọc Chuỗi Thương Xót cho có hiệu quả, chúng ta không những chỉ đọc ngoài miệng mà còn phải suy niệm về ý nghĩa của những lời ấy trong tương quan với những gì Chúa Giêsu đã làm cho chúng ta trong Hy Tế Thập Giá. Khi đọc “Vì Cuộc Khổ Nạn đau thương của Chúa Giêsu Kitô, xin thương xót chúng con và toàn thế giới” chúng ta không những chỉ cầu xin Thiên Chúa ân huệ, mà còn dâng lên Ngài một hy lễ tạ ơn. Trong đó chúng ta nhìn nhận Ngài là Người Cha nhân từ, đầy Lòng Thương Xót, Đấng ban cho chúng ta tất cả những gì chúng ta cần để chu toàn bổn phận mà Ngài đã trao phó cho chúng ta qua Đức Kitô. Khi làm như thế, việc lần Chuỗi Lòng Thương Xót của chúng ta sẽ trở thành của lễ thiêng liêng đẹp lòng Thiên Chúa.

Kết Luận

Chuỗi Lòng Thương Xót Chúa bắt nguồn từ Hy Tế Thánh Thể. Khi đọc Chuỗi Lòng Thương Xót chúng ta không tham dự trực tiếp vào Hy Tế của Đức Kitô như trong Thánh Lễ vì trong Thánh Lễ, Hy Tế ấy được hiện tại hoá để cho chúng ta được thông phần. Tuy nhiên, Chuỗi Thương Xót là một phương tiện cho chúng ta suy niệm, tưởng nhớ và sống Thánh Thể ở ngoài Thánh Lễ. Nó mời gọi chúng ta kết hợp những hy sinh của mình với Hy Lễ của Đức Kitô cách thiêng liêng để cầu cho chính mình hoặc chuyển cầu cho người khác. Chúa Giêsu đã hứa qua Thánh Faustina “Qua Chuỗi Lòng Thương Xót, con sẽ nhận được tất cả mọi sự, nếu điều con xin hợp với Thánh Ý Ta” (Nhật Ký, 1731). Và cách tốt nhất để điều chúng ta cầu xin hợp với Thánh Ý Chúa là cầu xin trong tâm tình dâng hiến kết hợp với Hy Lễ của Đức Kitô và tạ ơn như trong Thánh Lễ.

Câu hỏi để Hồi Tâm

1.  Bạn có khi nào lần Chuỗi Thương Xót không? Bạn lần chuỗi với mục đích gì?

2.  Và bạn lần chuỗi với thái độ nào?

3.  Làm sao để lần Chuỗi Thương Xót cách đẹp lòng Chúa nhất?

 

Phaolô Phạm Xuân Khôi (kỳ III và hết)


(HT 21-4-2024)

BÀI CA NGƯỜI TÔI TỚ THỨ HAI (49:1-6)

Thiên Chúa đã Minh Xét cho Người

Nhưng Người Tôi Tớ ý thức rằng mình lệ thuộc hoàn toàn vào Thiên Chúa – Cứu chuộc thế gian là công trình của Thiên Chúa chứ không phải của loài người. 

Chính vì Người trung thành mà Thiên Chúa đã minh oan cho Người bằng cách không làm cho những vất vả của Người phải nhọc công.  Thiên Chúa đã dùng Người mà quy tụ một Nhà Giacóp mới, Dân Israel mới là Hội Thánh chung quanh Người. Qua Hội Thánh này, là Nhiệm Thể Đức Kitô, Thiên Chúa đang đem ơn cứu độ đến tận cùng trái đất.

Nhưng sự thật, đã có ĐỨC CHÚA minh xét cho tôi,

Người dành sẵn cho tôi phần thưởng.

5Giờ đây ĐỨC CHÚA lại lên tiếng.

Người là Đấng nhào nặn ra tôi

từ khi tôi còn trong lòng mẹ

để tôi trở thành người tôi trung,

đem nhà Gia-cóp về cho Người

và quy tụ dân Ít-ra-en chung quanh Người.

Thiên Chúa đã biến một nhóm môn đệ yếu đuối, nhút nhát và có thể nói là không mấy trí thức, thành những người rao giảng Nước Trời cho những người quyền thế và uyên bác trên đời. Và các ngài đã thành công một cách phi thường. Bất chấp mọi khó khăn và bách hại. Chỉ 400 năm sau, Kitô giáo đã chinh phục toàn đế quốc Rôma không phải bằng gươm giáo mà bằng chân lý và ơn cứu độ của Thiên Chúa.

Là Kitô hữu, mỗi người chúng ta cũng được Chúa chia sẻ sứ vụ Thiên Sai của Người, là sứ vụ Ngôn Sứ, Tư Tế và Vương Giả. Chúa muốn chúng ta tiếp tục đem ơn cứu độ đến cho muôn dân, đến tận cùng trái đất qua chính cuộc sống của mình như những môn đệ truyền giáo.

Thế nên tôi được ĐỨC CHÚA trân trọng,

và Thiên Chúa tôi thờ là sức mạnh của tôi.

6Người phán: “Nếu ngươi chỉ là tôi trung của Ta

để tái lập các chi tộc Gia-cóp,

để dẫn đưa các người Ít-ra-en sống sót trở về, thì vẫn còn quá ít.

Vì vậy, này Ta đặt ngươi làm ánh sáng muôn dân,

để ngươi đem ơn cứu độ của Ta đến tận cùng cõi đất.”

Chúa Giêsu Đồng Hành với Chúng ta trong Bí tích Thánh Thể

Trong cuộc đời môn đệ của mình, chúng ta cũng gặp nhiều trở ngại, khó khăn và thất bại. Khi bị người ta chối bỏ, phê bình, chê bai, nói hành nói xấu, chúng ta cũng cảm thấy chán nản và muốn bỏ cuộc. Khi bị cám dỗ, chúng ta có thể cũng sa ngã. Gương của Người Tôi Tớ Đau Khổ giúp cho mỗi người chúng ta ý thức rằng “Tôi có một sứ vụ mà Thiên Chúa đã gọi và trao cho tôi từ trong lòng mẹ.”  Tôi không được bỏ cuộc. Bất chấp ý kiến của người đời, Thiên Chúa biết những việc tôi làm và đã để dành sẵn phần thưởng cho tôi. Bất chấp những yếu đuối và bất lực của tôi, tôi biết tôi có Chúa là sức mạng của tôi và tôi có thể làm được mọi sự với Người và trong Người.


Phaolô Phạm Xuân Khôi (kỳ II)

Lần Chuỗi Lòng Thương Xót Chúa Là Dâng Hy Tế Thiêng Liêng

Khi dâng không những chỉ Mình và Máu, mà còn cả Linh hồn và Thiên tính của Chúa Con, chúng ta tuyên xưng đức tin vào sự Hiện Diện Thật của Đức Kitô trong Bí tích Thánh Thể. Chúng ta công nhận rằng Thánh Thể là Toàn Thể Đức Kitô, Con Thiên Chúa, bao gồm cả Mình, Máu, Linh hồn và Thiên tính, được thực sự dâng lên Chúa Cha trong Thánh Lễ, mà chúng ta bây giờ dâng lên Ngài cách thiêng liêng khi lần Chuỗi Thương Xót.

Khi đọc câu “Để đền vì tội lỗi chúng con và toàn thế giới,” chúng ta kết hợp những hy sinh nho nhỏ của mình với hy sinh vô giá và hoàn hảo của Đức Kitô để đền tội cho chính mình và cho những người khác. Đức Kitô đã hoàn tất công trình Cứu Chuộc nhân loại bằng cách chết trên Thánh giá để đền thay cho tội lỗi chúng ta và toàn thế giới từ tạo thiên lập địa cho đến tận thế. Trong Thánh Lễ, biến cố này được hiện tại hoá cho chúng ta một cách mới mẻ. Mới mẻ vì bao gồm những hy sinh nho nhỏ của chúng ta. Như thế, khi lần Chuỗi Lòng Thương Xót Chúa, chúng ta dâng Lễ cách Thiêng Liêng giống như khi chúng ta đọc kinh Rước Lễ Thiêng Liêng.

Chuỗi Thương Xót nhắc đến Hy Tế Thập Giá

Khi đọc “Vì Cuộc Khổ Nạn đau thương của Chúa Giêsu Kitô,” chúng ta tưởng nhớ Cuộc Khổ Nạn của Chúa Giêsu trên Thánh Giá để cứu độ nhân loại như Hội Thánh tuyên xưng trong Kinh Tiền Tụng trong tuần thứ năm Mùa Chay “Lạy Chúa là Cha chí thánh, là Thiên Chúa toàn năng hằng hữu, chúng con tạ ơn Chúa mọi nơi mọi lúc, ... Vì nhờ cuộc khổ nạn sinh ơn cứu độ của Con Chúa, toàn thế giới đã nhận biết phải tuyên xưng uy linh Chúa.”

Qua những lời này chúng ta cầu khẩn “xin thương xót chúng con (hoặc cầu bầu cho một linh hồn hay một người nào đó) và toàn thế giới”.  Lời cầu nguyện cho chính mình nhắc nhở chúng ta rằng mình là người tội lỗi, luôn cần đến Lòng Thương Xót Chúa. Điều này giống như Hành Động Sám Hối trong Thánh Lễ.  Trong việc chuyển cầu cho tha nhân, không có cách chuyển cầu nào quyền năng hơn chuyển cầu cậy vào “Cuộc Khổ Nạn hồng phúc” của Hội Thánh trong Thánh Lễ.

Nhiều khi chúng ta chỉ nhớ đến ơn tha tội khi nghĩ đến Cuộc Khổ nạn của Chúa mà quên những ơn quan trọng khác Chúa Giêsu đã làm cho chúng ta trên Thập Giá. Cẩm nang Huấn luyện Tông Đồ Thánh Thể của Lòng Thương Xót kể ra những ơn sau đây:

·         Người đã chịu phạt thay cho chúng ta (Is 53:4-5; Mt 8:16-17; 1 Phr 2:24).

·         Người đã bị thương tích để chúng ta được chữa lành (Is 53:5; 1 Phr 2:24).

·         Người đã biến thành hiện thân của tội lỗi vì chúng ta, để làm cho chúng ta nên công chính trong Người (Is 53:10; 2 Cor 5:21).

·         Người đã gánh lấy nỗi ô nhục của chúng ta để chúng ta có thể chia sẻ vinh quang của Người (Mt 27:35-44; Dt 2:10, 12:2).

·         Người đã trở nên nghèo khó vì chúng ta để chúng ta trở nên giàu có trong Người (2 Cor 8:9; 9:8; Cv 20:35).

·         Người đã bị loại trừ để chúng ta được Chúa Cha nhận làm con cái (Mt 27:46 và 50; Eph 1:5-6).

·         Người trở nên đồ bị nguyền rủa để chúng ta được chúc lành (Gal 3:14). 

Phaolô Phạm Xuân Khôi (kỳ II)

(HT 14-4-2024)

BÀI CA NGƯỜI TÔI TỚ THỨ HAI (49:1-6)

Bài Ca Thứ Hai nói về ơn gọi của Người Tôi Tớ việc Người đáp lại ơn gọi của mình ra sao.

Ơn Gọi của Người Tôi Tớ

Trước hết Người Tôi Tớ ý thức rằng Thiên Chúa đã gọi mình trước khi chào đời và trao cho Người một sứ vụ. Đó là sứ vụ đem ơn cứu độ đến không những chỉ cho dân Israel, mà còn cho muôn dân, là những người sống trên các hải đảo và những miền xa xăm.

1Hỡi các đảo, hãy nghe tôi đây,

hỡi các dân tộc miền xa xăm, hãy chú ý:

ĐỨC CHÚA đã gọi tôi

từ khi tôi còn trong lòng mẹ,

lúc tôi chưa chào đời, Người đã nhắc đến tên tôi.

Cách Thiên Chúa Huấn Luyện Người Tôi Tớ

Một khi đã ý thức được sứ vụ của mình, Người Tôi Tớ có thể an lòng tiến bước bất chấp mọi gian nan khốn khó trên đường sứ vụ.

Người cũng ý thức rằng Thiên Chúa sẽ ban cho Người tất cả mọi phương tiện cần thiết để chu toàn sứ vụ. Để rao giảng, Thiên Chúa cho miệng Người như gươm sắc bén.  Để chống lại quân thù, Thiên Chúa đã biến Người thành mũi tên nhọn.  Nhưng Thiên Chúa giấu lưỡi gươm này dưới bàn tay và mũi tên ấy trong ống tên của Ngài.  Nghĩa là Thiên Chúa sẽ dùng gươm và tên ấy bất cứ lúc nào Ngài muốn.  Còn Người Tôi Tớ thì luôn luôn vui vẻ sẵn sàng tuân theo. 

Trong cuộc sống, biểu diễn những tài năng mình có để khoe khoang, để tìm danh vọng thì dễ, nhưng âm thầm tu luyện theo ý Chúa và kiên nhẫn chờ đợi ngày Chúa dùng mình thì không phải dễ. Chính vì thế mà Chúa Giêsu đã chờ đợi 30 năm và luôn luôn quyết tâm làm theo ý Đấng đã sai Người (Mt 26:39; Lc 22:42; Ga 4:34; 5:30; 6:38; 6:39; 8:42). Trong 30 năm Thiên Chúa đã cất Chúa Giêsu thật kỹ “trong ống tên của Người”

2Người đã làm cho miệng lưỡi tôi nên như gươm sắc bén,

giấu tôi dưới bàn tay của Người.

Người đã biến tôi thành mũi tên nhọn,

cất tôi trong ống tên của Người.

Cách Thiên Chúa dùng Người Tôi Tớ

Thiên Chúa muốn dùng Người Tôi Tớ để biểu lộ vinh quang của Ngài. Ngài đã biểu lộ vinh quang ấy bằng một phương cách lạ đời là để cho Người Tôi Tớ của Ngài bị người đời coi là thất bại. Chính vì đo lường sự thành công của Chúa Giêsu theo tiêu chuẩn thế gian nên người Do Thái đã không nhận ra Chúa Giêsu chính là Người Tôi Tớ mà Ngôn sứ Isaia đã nói tới. 

Người đã phí sức rao giảng và làm bao nhiêu phép lạ trong ba năm trường, nhưng cuối cùng thì không những dân chúng không chấp nhận Người mà còn đóng đanh Người vào Thập giá. Còn các môn đệ thân tín của Người thì hoặc là phản bội Người hoặc là nhát đảm bỏ trốn hoặc theo Người từ xa xa trong lúc Người cần các ông nhất. Trước mặt thế gian Người thật sự đã “vất vả luống công, phí sức mà chẳng được gì” khi chết trên Thánh giá.

3Người đã phán cùng tôi: Hỡi Ít-ra-en, ngươi là tôi trung của Ta.

Ta sẽ dùng ngươi để biểu lộ vinh quang.

4Phần tôi, tôi đã nói:

Tôi vất vả luống công, phí sức mà chẳng được gì.

 

Phaolô Phạm Xuân Khôi (kỳ I)

 

Lần Chuỗi Lòng Thương Xót Chúa Là Dâng Hy Tế Thiêng Liêng

Có lẽ rất nhiều người trong chúng ta lần Chuỗi Lòng Thương Xót hằng ngày. Chúng ta lần chuỗi vì sùng kính Chúa và tin vào những điều Chúa Giêsu đã hứa với Thánh Faustina khi Người bảo Chị “Con hỡi, con hãy khuyến khích các kinh hồn lần chuỗi mà Ta sẽ ban cho con. Ta vui lòng ban cho họ tất cả những gì họ xin qua việc làn chuỗi này.” (1541). Chúa còn hứa nhiều điều hơn nữa. Để làm sáng tỏ các lời hứa này, Chúa nói thêm với Chị, “Qua Chuỗi Lòng Thương Xót, con sẽ nhận được tất cả mọi sự, nếu điều con xin hợp với Thánh Ý Ta” (Nhật Ký, 1731).

Trong bối cảnh Phục hưng Thánh Thể, chúng ta hãy cùng nhau tìm hiểu mối liên hệ giữa Chuỗi Lòng Thương Xót và Thánh Lễ, vì trong Thánh Lễ chúng ta dâng lên Thiên Chúa một Hy Lễ hợp với Thánh Ý Thiên Chúa nhất, đó chính là Hy Lễ của Đức Kitô. Mà hai Kinh chính của Chuỗi Lòng Thương Xót đều nhắc đến Hy Lễ này.

Chuỗi Thương Xót nhắc đến Hy Lễ trên Bàn Thờ

Chúng ta bắt đầu Chuỗi Thương xót bằng kinh Lạy Cha Hằng Hữu.” Trong kinh này chúng ta gọi Thiên Chúa là “Cha”. Điều ấy phản ánh cách chúng ta xưng hô với Ngài trong Kinh nguyện Thánh Thể của mỗi Thánh Lễ. Chúng ta không chỉ gọi Ngài một cách trừu tượng là “Thiên Chúa” hay “Đấng Tối cao”. Thay vào đó, chúng ta đến với Ngài như Người Cha yêu thương được Chúa Giêsu Kitô mạc khải – “Người Cha giàu lòng thương xót” (Eph 2:4). Bằng cách sử dụng thuật ngữ “Cha Hằng Hữu,” chúng ta nhấn mạnh đến thiên tính của Ngài, vượt ra ngoài không gian và thời gian. Ngài ở khắp mọi nơi và nhìn thấy quá khứ, hiện tại và tương lai cùng một lúc. Vì vậy, Ngài nhìn thấy Lễ Vật và sự Hy sinh hoàn hảo của Con Ngài để chuộc tội nhân loại cho đến đời đời.

Rồi sau đó chúng ta đọc tiếp, Con xin dâng Cha Mình, Máu, Linh hồn, và Thiên tính của Con yêu dấu Cha là Đức Giêsu Kitô, Chúa chúng con.” Cụm từ này liên quan mật thiết với Bí tích Thánh Thể vì trong Thánh Lễ, Linh mục dâng lên Chúa Cha Mình Máu Đức Kitô trong hình bánh rượu. Khi chúng ta cầu nguyện với Chuỗi Thương Xót, chúng ta không tham dự vào hành động dâng hiến này này một cách trực tiếp, nhưng một cách thiêng liêng. Để việc tham dự thiêng liêng này thực sự có hiệu quả theo Ý Chúa, chúng ta cũng phải chuẩn bị như khi tham dự trực tiếp.

Trong Thánh Lễ, chúng ta cùng với Linh mục chuẩn bị của Lễ bằng cách đem bánh và rượu lên bàn thờ. Bánh là hoa mầu ruộng đất và công lao của con người. Rượu là sản phẩm từ cây nho và công lao của con người. Chính vì thế của Lễ dâng lên không chỉ là Hy Lễ của Chúa Giêsu mà còn bao gồm mỗi người chúng ta và những hy sinh nhỏ bé của chúng ta kết hợp với Hy Lễ của Chúa để dâng lên Chúa Cha. Đó là lý do tại sao trước Lời Nguyện Tiến Lễ Linh mục mời gọi chúng ta, “Anh chị em hãy cầu nguyện để hy lễ của tôi cũng là của anh chị em được Thiên Chúa là Cha toàn năng chấp nhận.” Như thế, Hy Lễ được dâng lên là của Chúa Giêsu mà Linh mục nói là “của tôi” vì Linh mục hành động trong cương vị là Đức Kitô và “của anh chị em” là những hy sinh của mỗi người chúng ta kết hợp với Hy Lễ của Đức Kitô. Rồi trước khi truyền phép, Linh mục nài xin Chúa Cha “dùng ơn Thánh Thần Chúa thánh hóa những của lễ này, để trở nên cho chúng con Mình và Máu Ðức Giêsu Kitô, Chúa chúng con.” Như vậy qua việc truyền phép, chính chúng ta cũng được trở thành Thân Mình của Đức Kitô, chứ không phải chỉ bánh và rượu.

 

Phaolô Phạm Xuân Khôi (kỳ I)

(HT 7-4-2024)

BÀI CA NGƯỜI TÔI TỚ THỨ NHẤT (Is 42:1-9)

Người Tôi Tớ và Bí Tich Thánh Thể

Vào đêm Thứ Năm Tuần Thánh, Chúa Giêsu đã thiết lập Giao Ước Mới bằng Máu của Người để làm tròn lới loan báo của ngôn sứ Isaia về Người Tôi Tớ Đau Khổ trong câu 42:6. Khi được treo trên Thập Giá Chúa Giêsu đã kéo mọi sự lên với Người. Đó chính là giờ mà Người được tôn vinh và Thiên Chúa cũng được tôn vinh với Người. Đó chính là giờ mà Mình Người bị nộp vì chúng ta và Máu Người đổ ra để chúng ta được tha tội. Trong Tam Nhật Thánh, Người đã mở mắt cho Người Trộm Lành và viên Bách Đội Trưởng để nhận ra Người là Con Thiên Chúa. Người đã xuống Ngục Tổ Tông “đưa ra khỏi tù những người bị giam giữ, dẫn ra khỏi ngục những kẻ ngồi trong chốn tối tăm.”

Vì yêu thương chúng ta, Chúa Giêsu đã thiết lập Bí tích Thánh Thể để hiện tại hoá những việc Người đã làm 2000 năm trước ngõ hầu những công việc của Người Tôi Tớ được Thiên Chúa tuyển chọn và yêu quý có thể xảy ra cho chúng ta ngay bây giờ tại đây. Không những thế Người còn muốn chúng ta ăn Thịt Người và uống Máu Người để chính chúng ta cũng trở thành những Người Tôi Tớ được Thiên Chúa tuyển chọn và yêu quý như Người để tiếp tục sứ vị của Người cho đến tận thế.

Tuần Thánh mời gọi chúng ta là những người tội lỗi và bệnh tật đến cùng Chúa Giêsu để được Người tha thứ và chữa lành. Cuộc đời chúng ta đôi khi cũng bị bầm dập như những cây lau. Chúng ta cần Chúa thêm sức để nên mạnh mẽ hơn. Đức tin của chúng ta có khi cũng thoi thóp như tim đèn leo lét, chúng ta cần Chúa ban thêm đức tin để chu toàn sứ vụ môn đệ của mình.

Đó là lý do tại sao các Giám Mục Hoa Kỳ đề ra Ba Năm Phục hưng Thánh Thể. Mục đích của các ngài là canh tân Hội thánh bằng cách khơi dậy một mối liên hệ sống động với Chúa Giêsu Kitô trong Bí tích Thánh Thể trong mỗi người Công Giáo chúng ta, để những tim đèn đức tin đang thoi thóp được bùng cháy lên thay vì bị trận cuồng phong của chủ nghĩa thế tục dặp tắt. Đồng thời các ngài muốn gợi hứng cho một phong trào của những người Công giáo trên khắp nước Hoa Kỳ, là những người được chữa lành, hoán cải, đào luyện và hợp nhất nhờ gặp gỡ với Chúa Giêsu trong Bí tích Thánh Thể — và sau đó được sai đi truyền giáo “để cho thế gian được sống” vì tất cả chúng ta đều là hiện thân của Người Tôi Tớ Thiên Chúa cho thế gian.

Gợi ý để Hồi Tâm

Chúng ta hãy dành một ít dây phút đọc lại Bài Ca Thứ Nhất và hồi tâm bằng cách suy nghĩ và trả lời những câu hỏi sau:

1)  Trong cuộc đời, tôi đã cảm nghiệm được tình yêu thương dịu hiền, thương xót và khoan dung của Chúa Giêsu thế nào, đặc biệt là trong Bí tích Thánh Thể và Hoà Giải?

2)  Có phần nào trong đời tôi đang bị “bầm dập” hay “leo lét” không? Những điều ấy làm cho tôi xa cách Chúa hay kéo tôi lại gần Chúa để làm cho tôi trông cậy hơn vào Người? Tôi có chây đến cùng Chúa Giêsu trong Bí tích Thánh Thể để Người chữa lành và thêm sức cho tôi không ?

3)  Tôi có thấy công lý của Thiên Chúa đang được thực hiện chung quanh tôi, trong gia đình tôi và trong giáo xứ tôi không? Nếu không thì tôi sẽ làm gì để đem công lý vào những nơi còn thiếu xót này?

4)  Tôi hiện đang chia sẻ sứ vụ của Người Tôi Tớ Thiên Chúa trong việc chữa lành các người bệnh tật, củng cố những người yếu đuối, và bênh vực những kẻ bị áp bức như thế nào?

 Phaolô Phạm Xuân Khôi (kỳ II và hết)

(HT 31-3-2024)

BÀI CA NGƯỜI TÔI TỚ THỨ NHẤT (Is 42:1-9)

Bài ca Thứ Nhất trình bày Người Tôi Tớ như một người được Thiên Chúa tuyển chọn và yêu quý. Chính vì thế mà Thiên Chúa đã cho Thần Khí ngự trên Người.  Người làm cho Thiên Chúa rất hài lòng. 

1Đây là người tôi trung Ta nâng đỡ,

là người Ta tuyển chọn và quý mến hết lòng,

Ta cho thần khí Ta ngự trên nó;

Những câu này khiến chúng ta liên tưởng đến việc Chúa Giêsu chịu phép rửa khi Thánh Thần lấy hình chim bồ câu ngự xuống trên Người và có tiếng từ trời phán: “Con là Con yêu dấu của Cha, Cha rất hài lòng về Con” (x. Mc 1:10-11).

Sứ vụ của Người Tôi Tớ

Sứ vụ của Người Tôi Tớ là mang công lý đến cho muôn dân bằng giáo huấn yêu thương của Người. Công lý của Thiên Chúa khác với công lý của loài người.  Công lý ở đây không những gắn liền với việc tái thiết lập những mối liên hệ chính đáng giữa con người với nhau mà còn với Thiên Chúa.

Vì Tội Nguyên Tổ, những mối liên hệ này đã bị méo mó hoặc cắt đứt. Con người không còn coi Thiên Chúa là Đấng Tạo Hoá của mình mà muốn thay quyền Thiên Chúa để tự mình quyết định lấy đời mình bằng cách chủ quan xác định điều gí là thiện, điều gì là ác theo ý riêng mình. Con người không còn coi nhau như những cộng sự viên bình đẳng trong kế hoạch của Thiên Chúa mà như những vật dụng để thoả mãn các tham vọng, ước muốn và tư lợi của mình. Con người cũng không còn nghĩ mình là những quản lý có trách nhiệm với thiên nhiên, mà nghêng ngang coi mình như những chủ nhân có toàn quyền trên các thụ tạo mà Thiên Chúa trao cho mình quản lý.

Thiên Chúa chọn Người Tôi Tớ để biến đổi nhân loại từ con cái sự tối tăm thành con cái sự sáng; để dạy họ bỏ con đường tội lỗi mà đi theo con đường công chính. Người đến để làm cho những mối liên hệ của con người nên ngay thẳng: liên hệ với Thiên Chúa, với chính mình, với tha nhân và với thế giới. Tất cả đã bị phá huỷ bởi Tội Nguyên Tổ. Người đến để tái thiết các mối liên hệ này bằng Giới Luật Yêu Thương, bằng Tám Mối Phúc Thật, và nhất là dùng chính cuộc sống của Người làm mẫu gương cho chúng ta. Sau cùng trước khi về trời, Người hứa ở cùng chúng ta mọi ngày cho đến tận thế trong Bí tích Thánh Thể, mà Người đã thiết lập vào đêm Thứ Năm Tuần Thánh để hiện tại hoá Mầu nhiệm Vượt Qua của Người.

Tác vụ của Người Tôi Tớ

Cả cuộc đời dương thế của Chúa Giêsu, từ khi thụ thai cho đến lúc chết trên Thánh Giá, đều là những bài học dạy cho chúng ta sống thế nào để thực thi công lý của Thiên Chúa. Chúa Giêsu đã âm thầm sống tại Nadarét 30 năm mà không ai biết đến. Rồi khi ra rao giảng công khai Chúa cũng vẫn âm thầm đi giữa mọi người, không bao giờ tỏ ra là Đấng có quyền trên muôn vật. Người đã dịu dàng an ủi và chữa lành những người bệnh tật, khoan dung và đại lượng với những kẻ tội lỗi, bênh vực những kẻ bị tù đày và áp bức. Chẳng những Người không bẻ gẫy những cây lau bị dập mà còn tăng sức và chữa lành cho chúng để chúng có thể lớn mạnh lên. Chẳng những Người không nỡ tắt những tim đèn leo lét mà lại thêm dầu và lửa Thánh Thần cho chúng để chúng bùng cháy lên thành ánh sáng chiếu soi mọi người. Người đến không phải để lên án thế gian mà để thiết lập triều đại của Thiên Chúa trên thế gian.  Người đến không để kết án những kẻ tội lỗi mà mời họ trở về với Người và “đừng phạm tội nữa.” 

nó sẽ làm sáng tỏ công lý trước muôn dân.

2Nó sẽ không kêu to, không nói lớn,

không để ai nghe tiếng giữa phố phường.

3Cây lau bị giập, nó không đành bẻ gẫy,

tim đèn leo lét, cũng chẳng nỡ tắt đi.

Nhưng Người cũng không chùn bước trước mọi chướng ngại và quân thù. Quân thù đầu tiên chính là ma quỷ, đã tìm cách thử thách Người ngay từ lúc người mới ra rao giảng. Quân thù thứ hai là những kẻ tự cho mình là công chính đã không ngừng đi theo Người để bắt bẻ Người từng ly từng tý.  Người sẵn sàng chết cho công lý chứ không bao giờ chịu khuất phục.

Nó sẽ trung thành làm sáng tỏ công lý.

4Nó không yếu hèn, không chịu phục,

cho đến khi thiết lập công lý trên địa cầu.

Dân các hải đảo xa xăm đều mong được nó chỉ bảo.

Chính vì thế mà chưa đầy 2000 năm giáo huấn của Người đã lan tràn khắp cõi đất, bất chấp bắt bớ và cấm cách khắp nơi. Sở dĩ Người có thể làm như thế vì Người tin rằng Thiên Chúa luôn ở với Người và gìn giữ Người cùng đặt Người giao ước với dân Ngài và làm ánh sáng muôn dân.

6vì muốn làm sáng tỏ đức công chính của Ta.

Ta đã nắm tay ngươi,

đã gìn giữ ngươi và đặt làm giao ước với dân,

làm ánh sáng chiếu soi muôn nước,

7để mở mắt cho những ai mù loà,

đưa ra khỏi tù những người bị giam giữ,

dẫn ra khỏi ngục những kẻ ngồi trong chốn tối tăm.

 

Phaolô Phạm Xuân Khôi (kỳ I)

THÁNH LỄ LÀ GÌ?

Sự Liên hệ giữa việc Thờ Phượng và Hy Tế

Để hiểu sâu hơn về ý nghĩa của Thánh Lễ, chúng ta phải nhìn vào bản chất của việc thờ phượng. Tôn giáo thực sự là việc thờ phượng Thiên Chúa, và mọi người đều thờ phượng Thiên Chúa theo cách hiểu biết của họ, ngay cả khi họ hiểu lầm các thần khác là Thiên Chúa. Trong các tôn giáo truyền thống, việc thờ phượng được thể hiện qua các nghi lễ khác nhau như bày tỏ lòng biết ơn, cầu xin, đền tội, và tưởng nhớ sự kiện quan trọng trong lịch sử tôn giáo.

Chẳng hạn như trong đạo Do Thái, Lễ Vượt Qua không chỉ là một nghi lễ tưởng nhớ, mà còn là một bữa ăn đồng thời là một hy tế. Dân Do Thái tự hiểu mình là dân Thiên Chúa. Thiên Chúa đã lập giao ước với họ và bước vào mối quan hệ với họ. Và giao ước đó tập trung vào hy lễ quan trọng nhất đối với họ là hy lễ Vượt Qua. Việc lập lại hàng năm của giao ước xảy ra vào Lễ Vượt Qua. Lễ này của người Do Thái không chỉ là việc tưởng nhớ sự kiện cứu rỗi từ hàng nghìn năm trước, mà còn là việc hiện tại hoá sự kiện ấy. Người Do Thái tin rằng khi họ cử hành Lễ Vượt Qua và ăn thịt chiên Vượt Qua, thì điều ấy đã làm cho sự cứu rỗi xảy ra một lần duy nhất cho họ từ hàng ngàn năm trước trở thành hiện tại cho họ hôm nay.

Thánh Lễ và Hy Tế Thánh Thể

Từ sự hiểu biết về Chiên Vượt Qua của người Do Thái, chúng ta có thể hiểu Thánh Gioan Tẩy Giả có ý nói gì khi ngài chỉ vào Chúa Giêsu và bảo các môn đệ: “Đây Chiên Thiên Chúa, đây Đấng xóa tội trần gian.” Đối với một người Do Thái, đó là một điều rất quan trọng để nói về Chúa Giêsu. Rằng Người chính là Chiên Vượt Qua của Thiên Chúa. Và chúng ta cũng bắt đầu hiểu ý của Chúa Giêsu khi Người nói, “Các con hãy làm việc này mà nhớ đến Thầy.”

Chính trong Lễ Vượt Qua, Chúa Giêsu đã tụ họp với các Tông Đồ của Người để cử hành Bữa Tiệc Ly. Và giữa bữa ăn Vượt Qua ấy, Chúa Giêsu đã làm một điều chưa từng có. Thay vì đưa thịt chiên Vượt Qua cho mọi người ăn, Người đã thay đổi nó. Người cầm lấy bánh, dâng lời chúc tụng, bẻ ra trao cho các ông và nói: “Này là mình Thầy sẽ nộp vì các con. Hãy làm việc này mà nhớ đến Thầy.” Cùng một thể thức ấy, Người đã trao chén rượu cho các ông và nói rằng “Chén này là giao ước mới trong máu Thầy sẽ đổ ra cho các con.”

Những lời này của Chúa Giêsu, mà chúng ta nghe trong mỗi Thánh Lễ, liên kết mật thiết với Cái chết của Người trên Thập giá. Thực ra, chúng ta phải nói là những lời này và Cái chết của Chúa Giêsu trên Thập giá lệ thuộc lẫn nhau. Những lời này, nếu không có Cái chết của Người trên Thập giá, sẽ là những lời trống rỗng. Cái chết của Chúa Giêsu trên Thập giá, nếu không có những lời “Này là Mình Thầy bị nộp vì các con. Này là Máu Thầy đổ ra cho các con,” thì chỉ là Cái chết của một người vô tội. Nhưng khi những lời này và Cái chết ấy kết hợp với nhau, thì Người làm cho Cái chết của Người hiện diện. Chúng biểu thị Cái chết mang lại sự sống của Người. Qua Cái chết của Người, Người đã đóng ấn Giao Ước Mới bằng Máu của Người và mở ra cho chúng ta một mối liên hệ mới với Thiên Chúa.

Qua hành động nghi lễ này, khi nói những lời của Chúa Giêsu, ba điều xảy ra. (1) Bữa Tiệc Ly trở thành hiện tại. (2) Cái chết của Chúa Giêsu trên Thập giá trở thành hiện tại. (3) Sự Phục sinh ban sự sống của Người trở thành hiện tại. Ba điều đó hợp thành một sự kiện. Chúng ta gọi đó là Lễ Vượt Qua mới, Mầu Nhiệm Vượt Qua của chúng ta. Và sự kiện đó được hiện tại hoá cho chúng ta trong mọi Thánh Lễ.

Thánh Lễ không chỉ là một bữa ăn, mà là một bữa tiệc Hy tế, ở đó Chúa Giêsu, qua lời của Linh mục, hành động trong ngôi vị của chính Người, hiện tại hoá Hy tế duy nhất của Người trên Thập Giá. Khi Linh mục dâng bánh và rượu lên và nói những lời của Chúa Giêsu, Hy tế duy nhất của Người được hiện tại hoá cho chúng ta. Không phải là Chúa Giêsu lại chết một lần nữa, nhưng vì biến cố Chúa Giêsu chết tham dự vào sự vĩnh hằng của Thiên Chúa, cho nên nó không còn bị giới hạn bởi thời gian và không gian nữa.

Kết Luận

Thánh Lễ là món quà Hy tế duy nhất của Đức Kitô được hiện tại hoá cho chúng ta. Trong Thánh Lễ, chúng ta bước vào cõi vĩnh hằng của Thiên Chúa và được tham dự một cách mới mẻ vào Hy tế duy nhất của Đức Kitô diễn ra trên Thập giá. Vì thế mục đích chính của chúng ta khi tham dự Thánh Lễ là thông phần vào Hy tế của Đức Kitô.

Điều này rất quan trọng để hiểu rằng Cái chết của Chúa Giêsu trên Thập giá là một hành động thờ phượng Chúa Cha. Chúa Giêsu đã chuộc tội thế gian bằng cách hiến dâng chính Mình cho Chúa Cha để đền tội thay cho chúng ta. Và chúng ta có thể thông phần vào việc thờ phượng ấy qua Thánh Lễ. Trong Thánh Lễ, chúng ta được liên kết với Cái chết và sự Sống lại của Người, và nhờ đó, chúng ta được thông phần vào mầu nhiệm Vĩnh cửu của Thiên Chúa.

Câu hỏi để suy nghĩ

1.  Mục đích của bạn khi đi tham dự Thánh Lễ là gì? Nếu bạn muốn xin ơn, tạ ơn, đền tội và ngay cả Rước Lễ, bạn có nhất thiết cần đến nhà thờ để dự Thánh Lễ hay không?

2.  Hãy viết một giải thích ngắn gọn cho người khác về lý do tại sao bạn phải dự Thánh Lễ ngày Chúa Nhật dựa theo những gì bạn đọc trong bài này.

3.  Điều gì cần nhớ nhất trong bài này để giúp bạn tham dự Thánh Lễ một cách có ý thức, tích cực và trọn vẹn hơn trong những lần tới là điều gì?

Phaolô Phạm Xuân Khôi (kỳ II và hết)


(HT 24-3-2024)

BÍ TÍCH THÁNH THỂ - CUỘC TƯỞNG NIỆM BIẾN CỐ PHỤC SINH CỦA CHÚA 

                                                                                               

Cuối cùng, chúng ta có thể nói rằng việc tưởng niệm Kitô giáo là một sự vâng phục trong đức tin lệnh truyền của Chúa Giêsu: “Các con hãy làm việc này mà tưởng nhớ đến Thầy” (Lc 22,19).

Có ba yếu tố chính:

- Dấu chỉ Thánh Thể được ban trong Bữa Tiệc Ly, là bí tích của sự hy sinh.

- Thực tại của Giao ước trong máu Người là hành động được Chúa Kitô thực hiện trên thập giá.

- Đây là ân sủng được tặng ban cho đến khi Chúa lại đến.[18]

Khi cử hành Thánh Thể là việc tưởng niệm cuộc khổ nạn, cái chết và sự phục sinh của Chúa Kitô, chúng ta khám phá quyền năng của tình yêu Thiên Chúa, không phải là sức mạnh đàn áp và thống trị, mà là sức mạnh của tình yêu không để cho bất cứ tấn công của sự ác nào khuất phục được. Khi cử hành việc tưởng niệm Thánh Thể, nhớ lại Giao ước của Người, Thiên Chúa yêu cầu con người cũng hãy làm như vậy. Bí tích Thánh Thể là việc tưởng niệm sự Phục Sinh của Chúa, được hiện thực hóa qua lời cầu nguyện và cử hành phụng vụ trong đời sống Kitô hữu và phóng chiếu hướng tới ngày Chúa trở lại trong vinh quang.

Phụng vụ Thánh Thể là việc tưởng niệm mầu nhiệm cứu độ được Chúa Kitô hoàn tất như được trình bày cho chúng ta trong các Tin Mừng. Bí tích Thánh Thể là cuộc tưởng niệm Phục sinh của Chúa vừa mang tính ngôn sứ vừa mang tính tôn giáo vì bí tích này phóng chiếu chúng ta vào tương lai và liên kết chúng ta với quá khứ, nghĩa là cuộc khổ nạn - cái chết và sự phục sinh của Chúa Kitô. “Mỗi lần ăn Bánh và uống Chén này, là anh em loan truyền việc Chúa chịu chết Cho tới khi Chúa đến.” (1 Cr 11,26). Thông qua việc tưởng niệm Thánh Thể, Giáo hội loan truyền cách hữu hiệu công trình cứu độ do Chúa Kitô hoàn tất.

Việc cử hành Thánh Thể là sự vâng phục trong đức tin đối với mệnh lệnh của Thầy Chí Thánh: “Anh em hãy làm việc này mà tưởng nhớ đến Thầy”.

Lễ Vượt Qua của Giao Ước Cũ là việc tưởng niệm cuộc vượt qua từ ách nô lệ đến tự do, trong khi lễ Vượt Qua của Giao Ước Mới là việc tưởng niệm cuộc vượt qua của Chúa từ thế gian này về với Chúa Cha, là cuộc chiến thắng của sự sống trên sự chết.

Việc tưởng niệm Lễ Vượt Qua của người Do Thái làm cho các vị khách sống lại kinh nghiệm giải thoát khỏi Ai Cập và loan báo cuộc giải phóng cuối cùng và chắc chắn vào Nước Trời. Chúa Giêsu khắc sâu việc cử hành Lễ Vượt Qua này bằng chính mầu nhiệm cuộc khổ nạn của Người – đó là cái chết và sự phục sinh.

Với việc cử hành Lễ Vượt Qua của Giao Ước Cũ, dân được tuyển chọn chờ đợi sự giải thoát trọn vẹn, trong khi với Lễ Vượt Qua của Giao Ước Mới, Giáo hội được mời gọi sống lại mầu nhiệm Vượt Qua trong khi chờ đợi Chúa trở lại trong vinh quang.

Việc tưởng niệm Thánh Thể là sự đáp trả của tình yêu, lòng tạ ơn và sự vâng phục trong đức tin. Và từ sự tuân phục trong đức tin này dẫn đến việc hiện thực hóa trọn vẹn hy tế Thánh Thể của Chúa Giêsu, vốn dành cho tất cả những ai hiệp lễ được thông hiệp vào nguồn mạch của sự tự hiến cho Chúa Cha và cho anh chị em của mình, đến độ tự hiến trọn vẹn và dứt khoát.

Lm. Antoine Ndong, SSS (kỳ V và hết)

 

THÁNH LỄ LÀ GÌ?

Lời Phi Lộ - Tài liệu Mầu Nhiệm Thánh Thể trong đời sống Hội Thánh của các Giám mục Hoa Kỳ về Bí tích Thánh Thể là tài liệu nền tảng cho kế hoạch Phục hưng Thánh Thể của các ngài. Tiếc rằng rất ít người Công giáo Việt Nam tại Hoa Kỳ biết đến tài liệu này. Trong loạt bài này chúng tôi cố gằng tóm lược các bài học rút ra từ tài liệu và từ các lớp online do Đức Cha Cozzens hướng dẫn để giúp độc giả hiểu sâu xa hơn về Bí tích Thánh Thể và sống Mầu Nhiệm Cao Quý này. Dươi đây là Bài Thứ Ba.

Tiếp tục học hỏi về tài liệu Mầu nhiệm Thánh Thể trong Đời sống Hội Thánh của Hội đồng Giám mục Công giáo Hoa Kỳ, hôm nay chúng ta sẽ tập trung vào một khía cạnh quan trọng của Bí tích Thánh Thể mà có lẽ nhiều người Công giáo không biết đến.  Đó là Thánh Lễ tái trình bày hay hiện tại hoá Hy tế duy nhất của Đức Kitô trên Thập Giá. Câu hỏi đặt ra là điều này xảy ra như thế nào và tại sao nó lại có ý nghĩa quan trọng như vậy?

Mục đích của việc tham dự Thánh Lễ

Trước khi đọc tiếp, mỗi người chúng ta hãy bỏ một vài phút ra để cầu nguyện, suy nghĩ và chân thành trả lời câu hỏi dưới đây là “Bạn đi tham dự Thánh Lễ với mục đích gì?”

Có lẽ nhiều người sẽ trả lời rằng “Tôi đi dự Thánh Lễ để cầu nguyện cho con cháu tôi, cho ông bà tôi” hay “Tôi đi dự Thánh Lễ để xin ơn này ơn kia”. Những người khác đi tham dự Thánh Lễ để được lắng nghe Lời Chúa hay một bài giảng hấp dẫn của Linh mục hoặc thưởng thức những bài hát du dương của ca đoàn, gặp gỡ bạn bè… Và đa số chúng ta đi Lễ là để được rước Mình Máu Thánh Chúa.

Tất cả những mục đích trên đều chính đáng, nhưng chưa trọn vẹn, vì mục đích chính của Thánh Lễ không phải chỉ là những điều ấy. Thánh Lễ là một hành động thờ phượng, nhưng không phải là hành động thờ phượng của chúng ta, mà là hành động thờ phượng của Chúa Giêsu. Thánh Lễ hiện tại hoá hành động thờ phượng đích thực duy nhất từng xảy ra trong lịch sử: hành động thờ phượng mà Chúa Giêsu Kitô dâng lên Chúa Cha trên Thánh giá cách đây gần 2000 năm.

Trong Thánh Lễ, chúng ta có thể kết hợp sự thờ phượng yếu đuối của mình với sự thờ phượng đích thực của Chúa Giêsu. Ngay cả khi chúng ta lo ra vì những chuyện khác và không thể tập trung hoàn toàn vào sự hiện diện của Chúa Giêsu trong Thánh Lễ, thì Người vẫn nhận lấy sự hiện diện yếu đuối ấy và dâng nó lên Chúa Cha thay cho chúng ta, biến nó thành sự thờ phượng đích thực. 

Phaolô Phạm Xuân Khôi (kỳ I)

(HT 17-3-2024)

BÍ TÍCH THÁNH THỂ - CUỘC TƯỞNG NIỆM BIẾN CỐ PHỤC SINH CỦA CHÚA 

                                                                                                

Bí tích Thánh Thể là việc tưởng niệm Cuộc Thương Khó của Chúa được hiện thực hóa qua kinh nguyện và qua việc cử hành phụng vụ trong đời sống của người Kitô hữu và phóng chiếu đời sống ấy hướng tới ngày Chúa trở lại vinh quang. Do đó, phụng vụ Thánh Thể là việc tưởng niệm về các mầu nhiệm của ơn cứu độ được Chúa Kitô hoàn thành như được trình bày cho chúng ta trong các sách Tin Mừng. Việc tưởng niệm này không phải là việc tưởng nhớ đơn thuần về quá khứ, mà là sự hiện thực hóa nhờ quyền năng của Chúa Thánh Thần tác động qua đức tin và đức mến.

Việc hiện thực hóa này gieo vào lòng tín hữu hạt giống của sự sống mới và nuôi dưỡng nó để nó phát triển trong tâm hồn và trong hành động với tình huynh đệ. Như một lễ tưởng niệm, Bí tích Thánh Thể một cách nào đó được đức tin hướng tới sự trở lại của Chúa Kitô với thái độ tỉnh thức trong cầu nguyện và trong hành động, sự tỉnh thức nhằm duy trì sức mạnh của việc hiện thực hóa thông qua nhận thức rằng Chúa hiện diện với chúng ta qua Thần Khí của Người, qua ân sủng, qua Lời và các bí tích của Người.[11]

Việc cử hành Mầu Nhiệm Vượt Qua cho phép Giáo hội hiện thực hóa mầu nhiệm sự chết của Chúa Kitô và cũng để chủ động bước vào Giao Ước Mới. Như thế, Giáo hội trình bày ý nghĩa số phận con người đã được hòa giải với Thiên Chúa và làm cho ý nghĩa đó hiện diện trong cộng đoàn đang cử hành mầu nhiệm.[12]

Việc tưởng niệm Kitô giáo, được thực hiện bởi sự hồi tưởng Mình bị bẻ ra và Máu được đổ ra, được thực hiện nơi tấm bánh và chén rượu, là một thực tại khách quan, đồng thời, hiện thực hóa cho chúng ta hồng ân cứu độ, và trên nền tảng đó trình bày Thiên Chúa cho chúng ta để chúng ta tin chắc rằng Người sẽ vui lòng. Đó là cuộc gặp gỡ với Thiên Chúa, là chủ nhân của lịch sử, là Đấng đã can thiệp như một chủ thể chủ động vào việc mở ra lịch sử của chúng ta.

Việc tưởng niệm là một lời cam kết mang tính biểu tượng, được ban cho bởi Ngôi Lời để hoàn thành trong lịch sử những kỳ công của Thiên Chúa, một cam kết về sự hiện diện liên tục của những kỳ công đó, luôn hoạt động trong chúng ta và cho chúng ta là những người nắm bắt được điều đó bằng đức tin. Trong Giao Ước cũ, Lễ Vượt Qua vẫn hiện diện trong mỗi cuộc cử hành được đổi mới của nó, bởi vì việc Thiên Chúa ngự xuống và can thiệp, gìn giữ dân để giải thoát họ khỏi sự dại dột và cái chết, đã được tiếp tục ở đó, nhằm hoàn thiện dân này.[13]

Nhờ việc tưởng niệm mà Lễ Vượt Qua của Chúa Kitô được hiện thực hóa và

tồn tại mãi trong lịch sử cho đến ngày Ngài trở lại trong vinh quang. Nó cho phép Lễ Vượt Qua của người Kitô giáo được đặt trong sự kéo dài của Lễ Vượt Qua của người Do Thái. Giống như Lễ Vượt Qua của người Do Thái là việc tưởng niệm Lễ Vượt Qua lịch sử của cuộc xuất hành, Lễ Vượt Qua của Kitô giáo là việc tưởng niệm Cuộc Vượt Qua của Chúa Giêsu, nghĩa là cuộc vượt qua của Người từ thế gian này về với Cha của Người.[14]

Lễ Vượt Qua của Giao Ước Cũ được hoàn tất nơi sự Phục Sinh của Chúa Kitô: bánh và chén Thánh Thể là việc tưởng nhớ đến Chúa Kitô.[15] Mầu nhiệm cuộc đời, cái chết và sự phục sinh của Chúa Giêsu là hình thức tưởng niệm loan báo biến cố nguồn gốc của Kitô giáo. Chúa Giêsu đã biến bữa tiệc Thánh Thể thành việc tưởng niệm mầu nhiệm thập giá. Cùng với Người, nhờ Người, tạ ơn vì thân xác tan nát và máu Người đổ ra đã được ban cho chúng ta như là bản chất của Nước Trời, chúng ta dâng lên Thiên Chúa mầu nhiệm này giờ đây đã được hoàn tất bởi Đầu của chúng ta (là Chúa Giêsu Kitô), để mầu nhiệm này có thể đạt đến sự viên mãn tối hậu trong toàn bộ thân mình Người.[16]

Việc tưởng niệm Kitô giáo vừa mang tính tiên tri vừa mang tính tôn giáo ở chỗ nó phóng chiếu chúng ta vào chiều kích cánh chung và liên kết chúng ta với quá khứ, nghĩa là với biến cố của quá khứ, đó là cái chết và sự phục sinh của Chúa Kitô: Thật vậy, cho tới ngày Chúa đến, mỗi lần ăn Bánh và uống Chén này, là anh em loan truyền việc Chúa chịu chết cho tới khi Chúa đến. (1Cr 11,26). Việc tưởng niệm cho phép Giáo hội công bố một cách hữu hiệu và hiệu quả công cuộc cứu chuộc do Chúa Kitô thực hiện.

Yếu tố nền tảng của bí tích Thánh Thể Kitô giáo được tìm thấy trong Bữa Tiệc Ly: Thật vậy, trong đêm bị trao nộp Chúa Giêsu cầm lấy bánh, dâng lời tạ ơn, rồi nói với các môn đệ: Hãy cầm lấy mà ăn vì này là Mình Thầy, rồi cuối bữa ăn, Người cầm lấy chén, cũng tạ ơn và nói với các ông: hãy cầm lấy mà uống vì này là chén Giao Ước bằng máu của Thầy, rồi Người truyền lệnh cho các ông hãy làm việc này mà tưởng nhớ đến Người. Qua hành động này, Chúa Giêsu đã nêu gương cho chúng ta làm theo, đó là bí tích Thánh Thể: vâng lệnh Chúa Kitô, chúng ta làm điều chính Người đã làm.[17]

Lm. Antoine Ndong, SSS (kỳ IV)

 

 

Sống một Mùa Chay Thánh Thể

 

4.     Ra đi Truyền Giáo

Việc chia sẻ đức tin, đúng ra là một phần của các việc Bác ái, trở thành chủ đề cuối cùng của Mùa Chay. Nó bao gồm cả các việc Thương Linh Hồn. Mùa Chay là thời gian để canh tân, không những chỉ cách nên thánh mà còn cả sứ vụ Kitô hữu nữa. Mối tương quan Thánh Thể của chúng ta với Chúa Giêsu biến đổi chúng ta thành những sứ giả của Người. Nó thúc đẩy chúng ta chia sẻ Tin Mừng và công bố Mầu Nhiệm Đức Tin, đặc biệt là truyền bá việc Phục hưng Thánh Thể đến cho càng nhiều người càng tốt, nhất là những người trong Giáo xứ chúng ta, ngõ hầu tình yêu Chúa Thánh Thể tràn ngập và đốt cháy thế gian.

Tóm lại, Mùa Chay này mang đến một cơ hội thiêng liêng để tái quyết tâm sống những chiều kích Thánh Thể thiết yếu của đời sống Kitô hữu. Qua việc ăn chay, chúng ta khao khát Đức Kitô trong Thánh Lễ.  Qua việc cầu nguyện, chúng ta tôn thờ Người trong và ngoài Thánh Lễ. Được Người thúc đẩy, chúng ta dấn thân vào các việc bác ái Thánh Thể, hy sinh cho tha nhân như Chúa đã hy sinh cho chúng ta.  Và được Người ủy thác, chúng ta loan truyền việc Phục hưng Thánh Thể đến cho nhiều người để họ nhận ra sự hiện diện yêu thương của Người qua lời nói và đời sống của chúng ta. Kết quả là Người sẽ biến đổi thế gian qua những việc làm nho nhỏ của mỗi người chúng ta.

Câu hỏi để suy nghĩ

1.  Có khi nào bạn nghĩ về ý nghĩa của việc ăn chay một tiếng đồng hồ trước khi rước Lễ chưa? Bạn sẽ làm gì để biến thời gian này thành thời gian khơi lại lòng khao khát Thiên Chúa trước khi rước Lễ?

2.  Bạn thờ phượng Chúa thế nào trong và ngoài Thánh Lễ?  Bạn sẽ thay đổi cách cầu nguyện của bạn ra sao để phù hợp với tinh thần Thánh Thể?

3.  Bạn quyết tâm làm những việc bác ái nào mỗi ngày trong Mùa Chay? Bạn áp dụng Linh đạo Thánh Thể vào những việc bác ái này thế nào?

4.  Bạn có thể tham gia vào việc truyền bá Phục hưng Thánh Thể không? Bạn có thể bạn giới thiệu chương trình Phục hưng Thánh Thể phuchungthanhthe.org đến ít là 5 người bạn quen mỗi tuần bằng email, tin nhắn hay FaceBook, đặc biệt là những người trong gia đình hay trong các hội đoàn và giáo xứ của bạn không?

Phaolô Phạm Xuân Khôi (kỳ II và hết)

(HT 10-3-2024)

BÍ TÍCH THÁNH THỂ - CUỘC TƯỞNG NIỆM BIẾN CỐ PHỤC SINH CỦA CHÚA 

Việc tưởng niệm dưới nhãn quan của dân tộc có ý nghĩa lớn lao trong việc đào sâu và bồi đắp về lịch sử, tôn giáo, xã hội và đời sống gia đình. Nó không chỉ là một sự kiện cử hành nghi lễ thiết yếu của các hiến tế nhất định, mà còn là điều mang lại ý nghĩa cùng đích cho bất kỳ sự hiến tế nào. Đó là một định chế, do Thiên Chúa thiết lập, do Người ban cho và áp dụng cho dân của Người, để duy trì luôn mãi những can thiệp cứu độ của Người. Việc tưởng niệm không chỉ bảo đảm một cách chủ quan cho các tín hữu về hiệu quả lâu dài, mà trước hết, nó bảo đảm cho họ về hiệu quả này như một lời hứa mà họ có thể và phải đệ trình lên Ngài, một lời hứa về lòng trung thành của chính mình.

Tóm lại, chúng ta có thể nói rằng việc đọc kỹ Thánh Kinh cho phép chúng ta khám phá ra vị trí quan trọng mà lễ tưởng niệm Phục Sinh có liên quan trong Cựu Ước.

Thật vậy, trong suốt lịch sử cứu độ, Thiên Chúa nhớ lại Giao ước và những lời hứa của Người. Và về phần mình, dân được tuyển chọn luôn được mời gọi ghi nhớ những việc làm tốt đẹp và những kỳ công của Thiên Chúa. Lễ Vượt Qua của người Do Thái là cuộc tưởng niệm sự giải thoát mà Thiên Chúa đã cứu gỡ dân Người khỏi ách nô lệ của Pharaô. Bữa tiệc Vượt Qua là việc tưởng niệm để chứng nhận một thực tại chắc chắn cho dân Israen về những việc làm của Chúa.[9]

Qua ông Môsê, Thiên Chúa đã truyền cho dân Israen mỗi năm hãy kỷ niệm việc họ được giải thoát khỏi Ai Cập bằng một nghi lễ đặc biệt bằng cách chỉ ăn bánh không men trong bảy ngày (x. Xh 12,15). Việc hiến tế con chiên là một việc tưởng niệm đức tin của người dân và máu con chiên là một lời nhắc nhở về việc thiên thần hủy diệt đã cứu dân Israen khỏi cơn thịnh nộ của Thiên Chúa. Hy tế chiên Vượt Qua ám chỉ đến con đầu lòng và qua chúng mà nói đến toàn thể dân tộc và toàn thể tạo vật.[10] Thật vậy, việc tưởng niệm trong Cựu Ước không phải là một sự tưởng nhớ đơn thuần về các biến cố đã qua, mà là sự hiện thực hóa các kỳ công Thiên Chúa đã thực hiện trong quá khứ và sẽ được hoàn thành trọn vẹn chủ yếu trong mầu nhiệm vượt qua của Chúa Kitô.

2. Việc Tưởng Nhớ của Kitô hữu

Bản văn của thư Thánh Phaolô là tài liệu cổ nhất về việc cử hành Thánh Thể. Bản văn cho chúng ta biết: Trong đêm bị nộp, Chúa Giê-su cầm lấy bánh, dâng lời tạ ơn, rồi bẻ ra và nói: “Đây là Mình Thầy, hiến dâng vì anh em; anh em hãy làm việc này, mà tưởng nhớ đến Thầy.” Cũng thế, sau bữa ăn, Người cầm lấy chén rượu và nói: “Chén này là Giao Ước Mới, lập bằng Máu Thầy; mỗi khi uống, anh em hãy làm việc này, mà tưởng nhớ đến Thầy.” (x. 1Cr 11,23-25).