(HT 3-3-2024)

BÍ TÍCH THÁNH THỂ - CUỘC TƯỞNG NIỆM BIẾN CỐ PHỤC SINH CỦA CHÚA                                                                                                     

Việc cử hành Lễ Vượt Qua hàng năm này là cách thức để mỗi người Do Thái nhận thức được rằng họ hiện đang được tham dự vào đời sống và sứ mệnh của dân được giải phóng. Từ đó, họ còn chờ đợi trong hy vọng đối với việc hoàn tất viên mãn cuối cùng của sự giải thoát này[4]. Đây là lý do tại sao mỗi người Israen phải coi mình như đã ra khỏi Ai Cập và được giải thoát khỏi ách nô lệ. Người đó phải nhớ rằng mình đã được giải thoát khỏi sự trói buộc. Người ấy phải tiếp tục cộng tác vào công cuộc cứu chuộc và chính yếu của Thiên Chúa[5]. Đó là lý do tại sao tác giả thánh vịnh nói: “Hồi tưởng lại bao ngày xa cũ, tâm hồn ấp ủ những năm xưa, suốt canh khuya, trong dạ nhủ thầm, và suy gẫm, trí lòng con tự hỏi.” (x. Tv 77,6-7). Và Max Thurian nhấn mạnh điều này khi ông nói rằng: “việc tưởng nhớ, do đó, trở thành một hình thức hy tế cao hơn, hy tế hiệp nhất hoàn toàn với Lời Chúa và lòng biết ơn mà nó khơi lên để đáp lại.”[6]

Thật vậy, qua việc tưởng niệm, mỗi người Do Thái ý thức được hiện tại của mình hòa nhập vào sự sống và sứ mệnh của dân tộc và dự đoán trong lời cầu nguyện đầy hy vọng đối với kết cục của sứ mệnh này. Với việc cử hành lễ tưởng niệm, dân Do Thái nắm trong tay hai đầu của chuỗi lịch sử của họ:

- Người đó tham dự với lòng biết ơn trong các sự kiện mà từ đó Thiên Chúa đã khai sinh ra dân tộc và sứ mệnh của họ, đưa họ từ kiếp nô lệ đến sự tự do.

- Người đó cử hành trong hy vọng về sự kết thúc tốt đẹp của sứ mệnh này, sứ mệnh mà chính họ phải nhanh chóng hoàn thành trong phận vụ của mình[7].

Việc tưởng niệm của dân Do Thái không chỉ bao gồm việc giải phóng dân ra khỏi Ai Cập mà còn bao gồm tất cả các sự kiện liên quan được thuật lại trong Ngũ Thư như:

- Hành động giải phóng của Thiên Chúa thay cho dân Người.

- Trao ban Lề Luật tại núi Sinai.

- Trao ban đất hứa tựa như thiên đường mới.[8]

Đó là cách thức để những người Do Thái tham dự với lòng biết ơn vào các sự kiện mà qua đó Thiên Chúa đã khai sinh ra dân tộc và sứ mệnh của họ để đi từ nô lệ sang tự do. Do đó, Thiên Chúa phán:

Mai ngày khi con anh (em) hỏi anh (em) rằng: “Vì sao có các thánh ý, thánh chỉ, quyết định mà Đức Chúa, Thiên Chúa, đã truyền cho chúng ta?” Anh (em) sẽ trả lời cho con anh (em): “Chúng ta xưa làm nô lệ cho Pharaô bên Ai Cập, nhưng Đức Chúa đã ra tay uy quyền đưa chúng ta ra khỏi Ai Cập. Trước mắt chúng ta, Đức Chúa đã thực hiện những điềm thiêng dấu lạ lớn lao và khủng khiếp, phạt Ai Cập, phạt Pharaô và tất cả triều đình vua ấy. Còn chúng ta, Người đã đưa ra khỏi đó, để dẫn chúng ta vào và ban cho chúng ta đất Người đã thề hứa với cha ông chúng ta.” (x. Đnl 6,20-23). Đây là lý do tại sao qua việc tưởng niệm, dân nhìn thấy những điều kỳ diệu của Thiên Chúa trong công trình tạo dựng, và nhận ra trong đó dấu chỉ rõ ràng về tính hiện thực vĩnh cửu, và theo một cách thức cụ thể, về sự hoàn tất cánh chung.

                                                                                            Lm. Antoine Ndong, SSS (kỳ II)

 

Thánh Gioan Thiên Chúa, tu sĩ sinh ngày 8 tháng 3 năm 1495 tại Bồ Đào Nha. Cha mẹ Ngài là những người nghèo khổ nhưng đạo đức và đầy lòng bác ái. Lúc 9 tuổi ngài bỏ nhà trốn đi, theo một nhà mạo hiểm đã khéo kích thích trí tưởng tượng của tuổi thơ. Mẹ ngài đã qua đời sau ba tuần đau khổ vì không biết số phận của con trẻ ra sao. Còn cậu bé bị bỏ rơi, thiếu thốn mọi sự nên đành ở đợ nuôi thân. Ngài giúp việc cho một nhà tiểu nông, hàng ngày lo đi chăn chiên, cho đến khoảng 20 tuổi. Chán với cuộc sống đều đều, ngài đăng lính đi chiến đấu ở Phontarabia. Thật bất hạnh khi kiếp sống suy đồi của các bạn đồng ngũ đã lôi kéo ngài tới chỗ mất cả lòng kính sợ Chúa. Nhưng Chúa đã không bỏ rơi kẻ Ngài đã chọn. Ngày kia, khi đem thức ăn cho súc vật. Gioan bị té ngựa và bị trọng thương không còn cử động và nói năng gì được nữa. Nhận biết được mối nguy đang đe dọa thân xác tâm hồn, thánh nhân khấn cầu Đức Trinh Nữ và hứa sẽ sửa mình. Nhưng khi vừa hết bịnh, ngài lại trở về đường cũ.

Chúa quan phòng vẫn tiếp tục thể hiện tình thương bằng một hình phạt khác. Vị chỉ huy trao cho Gioan canh giữ chiến lợi phẩm. Nhưng vì bất cẩn nên ngài đã để mất chiến lợi phẩm. Gioan bị án xử giảo, bất kể mọi phân bua kêu khóc. Đến giờ hành hình, may có một cấp chỉ huy cao hơn can thiệp ngài mới được tha với điều kiện là bị giáng cấp. Bất mãn, Gioan trở về chủ cũ và được tiếp đón niềm nở. Gia chủ còn đề nghị gả con gái cho ngài nữa, nhưng ngài đã từ chối và chỉ sống như một kẻ chăn chiên.

Mười năm sau Gioan lại đăng lính làm pháo thủ trong cuộc viễn chinh đánh phá Thổ Nhĩ Kỳ. Chiến tranh kết thúc, binh đội Tây Ban Nha được giải ngũ. Gioan muốn trở về quê nhà. Nhưng người cậu cho biết mẹ ngài đã qua đời ba tuần sau ngày ngài bỏ nhà ra đi, cha ngài cũng mới qua đời tại một tu viện thánh Phanxicô. Những lời trách móc xâu xé tấm lòng của đứa con hoang đàng...

Gioan quyết sửa những ngông cuồng của tuổi trẻ và muốn hiến thân phục vụ người nghèo khổ yếu đau.

Gioan quyết định đi Phi Châu để giúp đỡ các Kitô hữu bị bắt làm nô lệ, với hy vọng được chết vì đạo. Tới Gibraltar, ngài gặp một nhà quí tộc bị thất sủng và phải đi đày. Cùng ông đáp tàu tới Ceuta, ngài đã phải làm việc để kiếm tiền nuôi ông chủ chẳng may ngã bệnh và lâm cảnh cùng quẫn. Đồng thời ngài đã vào các nhà tù, an ủi các tù nhân và săn sóc họ. Vị lãnh chúa qua đời. Gioan nhận lệnh của một tu sĩ Phanxicô truyền phải trở lại Tây Ban Nha, là nơi Thiên Chúa đã cho biết các ý định của Ngài.

Gioan trở lại Gibraltar. Ngài xin trời cao soi sáng, để nuôi thân ngài đi bán rong giày dép và tranh ảnh nhưng vẫn luôn lo cải hóa các tâm hồn. Một ngày kia ngài gặp trên đường một đứa trẻ cùng khổ đáng thương với cặp giò trần trụi bị nứt nẻ vì sỏi đá. Ngài vác nó trên vai, dừng lại nghỉ, đứa trẻ chỉ cho vị ân nhân một trái lựu (Grenade) có mọc cây thánh giá và nói:

- Hỡi Gioan Thiên Chúa, trái lựu (Grenade) sẽ là thánh giá của ông.

Rồi đứa trẻ biến mất. Gioan hiểu chính Chúa Giêsu là đứa trẻ ngài đã giúp đỡ.

Vào giờ phút cuối cùng, thánh nhân thú nhận ba thứ lo lắng làm se thắt lòng Ngài:

- bất xứng với ơn phúc đã lãnh nhận
- ưu tư cho những người nghèo mà ngài đã bỏ qua không trợ giúp được
- những món nợ ngài đã mắc phải vì các người xấu số.

Các y tá đã nhận Gioan Thiên Chúa làm thánh bảo trợ.

Chúa đã cho thánh Gioan được đầy tràn tình thương đối với kẻ nghèo và người bệnh tật. Xin cho chúng con cũng biết đem lòng bác ái phục vụ tha nhân hầu đáng hưởng vinh quang Nước Trời với những người được Cha tuyển chọn.

(HT 25-2-2024)

BÍ TÍCH THÁNH THỂ - CUỘC TƯỞNG NIỆM BIẾN CỐ PHỤC SINH CỦA CHÚA                                                                                                     

Dẫn Nhập

Lễ Vượt Qua là một trong những lễ hội ý nghĩa và nổi tiếng nhất trong năm của người Do Thái. Thực chất, vào buổi chiều tối của ngày thứ 14 trong tháng Nissan, lúc trăng tròn, thì dân Israen sát tế Chiên Vượt Qua và lấy máu bôi lên song cửa sổ và cửa ra vào (cửa chính) là nơi ăn chiên ở đó, được chứng thực ở chương 12 của sách Xuất Hành. Cách thức tiếp cận của chúng tôi là khởi đi từ việc cử hành Lễ Vượt Qua của người Do Thái cho đến Lễ Phục Sinh Kitô giáo. Và từ đó, chúng tôi sẽ trình bày mối dây liên kết giữa Lễ Vượt Qua của Do Thái và Lễ Phục Sinh Kitô giáo, một sự kiện duy nhất của ơn cứu độ nhân loại.

1. Việc Tưởng Niệm của dân Do Thái

Đối với người Do Thái, việc tưởng nhớ là một bằng chứng thánh thiêng mà Thiên Chúa đã ban cho dân Người. Dân tộc được kêu gọi phải gìn giữ việc làm này như một kho báu thiêng liêng nhất. Cuối cùng, việc tưởng nhớ này hàm ý tính tiếp diễn, tính vĩnh cửu huyền nhiệm của những hành động thánh thiêng vĩ đại được tưởng niệm ở những ngày đại lễ[1]. Quả thật, như một sự tái hiện trong hiện tại một sự kiện nhờ vào một dấu chỉ cụ thể, theo học giả Servigny thì việc tưởng nhớ có ba đặc điểm chính. Cụ thể là:

·         Nó là một dấu chỉ của hiện tại để hiện thực hóa một sự kiện trong quá khứ.

·         Nó là một bằng chứng về sự trung tín của Thiên Chúa đối với những lời hứa của Người.

·         Nó dẫn chúng ta đến một tương lai tốt đẹp hơn[2].

Vì vậy, việc cử hành cuộc tưởng niệm biến cố Phục Sinh này phải được lặp lại hàng năm. Và vì mục đích này, có lời chép rằng:

Các ngươi phải lấy ngày đó làm ngày tưởng niệm, ngày đại lễ mừng Đức Chúa. Qua mọi thế hệ, các ngươi phải mừng ngày lễ này. Đó là luật quy định cho đến muôn đời. Các ngươi sẽ giữ tục lệ mừng lễ Bánh Không Men, vì vào chính ngày đó, Ta đã đưa các ngươi ra khỏi đất Ai-cập. Qua mọi thế hệ, các ngươi phải giữ tục lệ mừng ngày lễ ấy; đó là điều luật vĩnh cửu. (Xh 12,14.17)

Do đó, dân Israen có nhiệm vụ giữ việc tưởng niệm về ngày này và cử hành từ đời này đến đời khác. Tuy nhiên, vì Lễ Vượt Qua này là một tập tục, nên Đức Chúa đã nói cho ông Mô-sê và ông A-ha-ron rằng: Đức Chúa phán với ông Mô-sê và ông A-ha-ron: “Đây là quy định về chiên lễ Vượt Qua: không người dân ngoại nào được ăn. Chỉ ngoại trừ, mọi nô lệ mua bằng tiền đã được ngươi cắt bì, thì được ăn” (x. Xh 12,43.44). Việc tưởng niệm cho phép những ai cử hành trở thành một phần trong sự kiện đang được cử hành.

Hơn nữa, như lời Louis Bouyer nói: đó là nền tảng của một lời cầu xin chắc chắn, đến nỗi hiệu lực vô tận của Lời đã làm cho những điều kỳ diệu của Thiên Chúa ở trong quá khứ có thể đổi mới chúng và cùng đưa đến trong hiện tại. Đây là lý do tại sao trong lễ tưởng niệm, người ta sẽ luôn lặp lại lời này: “Lạy Chúa, xin nhớ đến chúng con.”[3]

Chính Đức Chúa đã đề nghị điều này khi phán rằng: “Trong ngày ấy, ngươi sẽ kể lại cho con của ngươi rằng: ‘Sở dĩ như vậy là vì những gì Đức Chúa đã làm cho cha khi cha ra khỏi Ai-cập.’” (x. Xh 13,8). Vì vậy, ngoài trách nhiệm ghi nhớ sự việc ra khỏi Ai Cập, còn có nghĩa vụ kể lại những việc làm kỳ diệu của Đức Chúa vào buổi tối của lệnh truyền (của bữa ăn Lễ Vượt Qua). Việc giải phóng khỏi Ai Cập, việc tiến vào và định cư ở vùng đất hứa là các giai đoạn của cùng một quá trình.

Lm. Antoine Ndong, SSS (kỳ I)

 

Ngày 27-2 Thánh Gregorio làng Narek sinh năm 950 tại làng Narek thuộc cộng hòa Arméni trong một gia đình văn sĩ và mồ côi mẹ khi còn nhỏ. Thân phụ của ngài là Cha Khosrov sau này trở thành Tổng Giám mục. Gregorio cùng với em là Gioan được thân phụ ủy thác cho một người họ hàng là bà Anania Narek để chăm sóc. Bà cũng là người đã lập ra trường học và làng Narek.

Lớn lên, Gregorio đi tu làm Đan sĩ, rồi thụ phong Linh mục và trở thành Viện phụ một Đan viện. Ngài sống rất khiêm tốn và bác ái, dấn thân làm việc và cầu nguyện, đầy lòng kính mến Chúa Giêsu và Đức Mẹ.

Cha Gregorio là một thần học gia nổi bật và là một trong những thi sĩ quan trọng nhất của nền văn chương Arméni. Trong số các tác phẩm của ngài có cuốn chú giải Sách Nhã Ca, nhiều bài tán tụng Chúa và Đức Mẹ, cùng với một bộ sưu tập 95 kinh nguyện dưới hình thức thơ phú gọi là “Narek” cũng là tên Đan viện nơi ngài sinh sống. Ngài qua đời năm 1010, thọ 60 tuổi. Mộ của thánh nhân trở thành nơi thu hút các tín hữu đến hành hương cho đến năm 1915 là thời kỳ cuộc tàn sát của Thổ nhĩ kỳ chống dân Arméni.

Trung thành với truyền thống Giáo Hội thánh Gregorio có lòng sùng mộ sâu xa đối với Đức Mẹ và theo lưu truyền Ngài đã được Đức Mẹ hiện ra. Trong số các tác phẩm của ngài, đặc biệt có bài tụng ca Đức Trinh Nữ Maria và kinh nguyện số 80 mang tựa đề “Từ thẳm sâu tâm hồn, chuyện vãn với Mẹ Thiên Chúa”. Trong kinh nguyện này, ngài cũng đào sâu mầu nhiệm Nhập Thể, kín múc từ đó những điểm để chúc tụng vẻ đẹp của Đức Mẹ.

Giáo Hội Công Giáo la tinh đã nhìn nhận sự thánh thiện của thánh Gregorio và gọi ngài là vị trổi vượt về đạo lý, các tác phẩm và khoa học thần bí. Lễ kính thánh nhân vào ngày 27-2 hằng năm. Giáo Hội Arméni ghi tên ngài vào số các vị Tiến sĩ.

(HT 18-2-2024)

HIỆP LỄ VỚI ĐỨC MẸ

 

NƯỚC, MEN VÀ SÁP ONG

 

Thánh Giáo phụ Cyrilô Alexandra dùng ba hình ảnh diễn tả sự kết hợp của Chúa trong việc Hiệp Lễ:"Ai Hiệp Lễ thì được thánh hóa và thần linh hóa linh hồn và thân xác cũng như nước đặt trên lửa sẽ sôi lên...Hiệp Lễ cũng giống như tấm men trộn vào đống bột làm cho bột dậy men...Hiệp Lễ giống như đốt hai cây nến để cho tan chảy thành một cục sáp, vì thế theo tôi, ai rước Mình và Máu Chúa thì được tan chảy với Ngài do Hiệp nhất, linh hồn thấy mình ở trong Chúa và Chúa ở trong mình".

 

Thánh Gemma Galgani thường nói cách bạo dạn về sự hiệp nhất Thánh Thể rằng: "Giêsu là Tất cả và Gemma là không". Khi ngất trí ngài nói: "Ôi Giêsu, dịu dàng chừng nào, khi được nên một với Chúa, con muốn được sống trong sự ấp ủ của Chúa và chết trong sự ấp ủ của Chúa". Chân phúc Contardô Pherrini viết: "Ôi Hiệp Lễ, thật không thể tả được sự cao cả mà linh hồn vươn tới, thế giới này tìm đâu ra sự trong sạch, niềm vui Thiên đàng và cảm nếm vinh quang đời đời?"

 

Không có gì quí giá dành cho ta trong việc Hiệp Lễ hơn là Thiên Chúa Ba ngôi. Một hôm thánh nữ Maria Mađalena Paoãi sau khi Rước Lễ, khoanh tay trước ngực, quì giữa các tập sinh, bà hướng mặt lên trời than thở: "Các chị em ơi, nếu chúng ta thấu hiểu khi Bánh Thánh đang ở trong ta, Chúa Giêsu ở đó và hành động không thể tách biệt với Chúa Cha và Chúa Thánh Thần, là Thiên Chúa Ba Ngôi". Thánh nữ không thể ngưng nói, vì người đang ngất trí. 

 

LƯU LẠI ÍT NHẤT MƯỜI LĂM PHÚT

 

Khi có thể, các thánh thường không muốn đặt giới hạn cho việc cảm ơn Chịu lễ, kéo dài ít nhất nửa giờ. Thánh Têrêsa mẹ nói với các con cái trong Dòng: "Ta hãy cầm mình lại cách thân tình với Chúa Giêsu, đừng phí phạm thời giờ sau khi rước Chúa, đó là thời gian tuyệt vời được sống với Chúa, trình bày cho Ngài những vấn đề linh hồn ta...Như ta biết, Chúa Giêsu nhân lành ở lại trong ta tới khi sức nóng của ta làm tan biến phẩm tính của Bánh thánh. Phải rất cẩn thận đừng làm mất cơ hội tốt đẹp như thế để cư xử với Ngài và trình bày nhu cầu của ta cho Ngài biết".

 

Thánh Phanxicô Assisi, Giuliana Phancônieri, Catarina, Paschal, Veronica, Giuse Cupertino, Gemma và nhiều thánh khác thường hay được xuất thần ngay sau khi Rước Lễ. Xuất thần bao lâu thì chỉ có các Thiên thần mới đo được thời gian. Thánh Têrêsa mẹ cũng gần như luôn luôn được xuất thần sau khi Rước Lễ, và đôi khi phải gỡ tay người ra khỏi hàng rào Rước Lễ. Thánh Gioan Avila, Inhatiô Loyola, Lui Gongiaga thường quì gối cám ơn Chúa hai giờ sau Rước Lễ. Thánh Maria Mađalena Paoli muốn được tiếp tục cám ơn không ngừng. Cần phải hãm ngài lại để ngài dùng chút thực phẩm nuôi thân, ngài viết:" Những phút sau Rước Lễ là những phút quí hóa nhất trong đời ta, là những phút thích thuận nhất để ta thân thưa với Chúa, và để Chúa chuyển cho ta ơn thông hiệp với Ngài". Thánh Grinhông Mongphô thường cảm ơn Chúa ít nhất nửa giờ, và ngài không muốn để chuyện gì xảy ra khiến ngài bỏ việc cám ơn Chúa, ngài nói: "Tôi không muốn bỏ giờ cám ơn này để đổi lấy ngay cả một giờ nước Thiên đàng".

 

Ta cũng hãy quyết định như vậy: Hãy tổ chức thì giờ của ta, cuộc sống của ta, để có thể cám ơn Chúa ít là được 15 phút sau khi Rước Chúa. Hơn nữa, đừng để chuyện gì làm ngăn trở ta dùng giờ cám ơn này. Những giây phút này, Chúa Giêsu hiện diệncách thể lý trong linh hồn và thân xác ta, đó là những giây phút Thiên Đàng mà ta không nên lãng phí cách nào.

 

THÁNH PHILIP SAI NGƯỜI CẦM NẾN

 

Thánh Phaolô Tông đồ đã viết:" Hãy tôn vinh Thiên Chúa nơi thân xác anh em" (1 Co 6, 20). Không có lúc nào có thể áp dụng sát từng chữ như lúc ta vừa Rước Lễ. Thực là vô tâm chừng nào  những ai vừa xong lễ đã bỏ nhà thờ ra về, vừa mới rước Chúa đã bỏ đi ngay. Lạy Chúa, ta hãy nhớ gương thánh Philip Nêri, ngài cho hai cậu giúp lễ cầm nến đi theo một người vừa Rước Lễ đã bỏ nhà thờ ra về ngay. Thực là bài học đáng nhớ. Nếu không vì lý do nào khác, thường khi đón khách, người ta chú ý tới khách chứ không chú ý tới lợi ích nào khác. Nếu vị khách đó là Chúa Giêsu, ta còn phải phàn nàn vì khi Ngài hiện diện nơi ta cách thể lý như thế mà ta chỉ cám ơn Ngài có hơn kém mười lăm phút. Cũng vì lý do này, thánh Giuse Cottolengo đã đích thân trông coi việc nướng bánh lễ, ngài căn dặn bà sơ trách nhiệm:" Làm cho tôi tấm bánh dầy hơn để tôi đựợc ở với Chúa lâu hơn, tôi không muốn loại bánh mau tan quá".

 

Có lẽ  ta đã làm ngược lại tấm gương lành thánh này khi ta thấy giờ cám ơn quá dài và không đủ kiên nhẫn kéo dài như vậy. Nhưng sự việc ra sao đây, nếu thực sự khi chịu Mình Thánh, Chúa ban "gấp trăm" cho kẻ đón rước Ngài? Thánh Têrêsa mẹ tuyên ngôn cách khôn khéo rằng, ta phải trả gấp trăm lần sự chểnh mảng khi đón tiếp Chúa Giêsu. Một thầy Dòng cùng nhà với cha Piô xưng tội với người. Cha không lưu tâm các tội khác, nhưng khi thầy xưng tội bỏ không cám ơn sau Hiệp Lễ, cha Piô đã nghiêm nghị quở trách, người khẳng định:" Thực ra, ta không muốn sự bất lực của ta. Đối với tôi, tôi luôn luôn phải cám ơn Chúa, cám ơn cách thiết tha".

 

Ta hãy coi đó là điều quan trọng và phải gắng lưu tâm. Còn có việc nào đáng quí bằng việc cám ơn này, hãy để tâm tới lời hiệu triệu của Chúa Thánh Thần: "Đừng để những sự lành đáng ước ao qua đi trong con". (Ec 14,14)

 

CẢM ƠN RƯỚC LỄ VỚI ĐỨC MẸ

 

Thật là tốt đẹp trong việc Tạ ơn, nếu được tạ ơn với Đức Mẹ để tôn kính việc Người được loan tin Chúa Nhập thể. Ngay sau khi Hiệp Lễ, ta mang Chúa Giêsu trong linh hồn và thân xác ta, như Đức Mẹ đã cưu mang Ngài sau khi đón nhận sứ mạng Thiên thần truyền tin. Không thể tìm ra cách nào hay hơn để thờ lạy và yêu mến Chúa Giêsu vào lúc đó bằng cách ta hợp với Đức Mẹ Chúa Trời. Ta hợp nhất những tâm tình thờ lạy và cảm mến của ta với tâm tình của Đức Mẹ đã có với Con của Mẹ trong Trái Tim Vô nhiễm Người. Để được như vậy, tốt hơn, ta suy gẫm kinh Mân côi khi đọc những mầu nhiệm mùa Vui. Cứ thử làm đi. Không thể thất bại khi được kết hợp với Đức Mẹ để yêu mến Chúa Giêsu bằng chính Trái Tim Thiên đàng của Người.

(Trích sách Mến yêu Thánh Thể, kỳ II và hết)

 

23 Tháng Hai - Thánh Polycarp, Giám mục tử đạo

Là môn đệ của Thánh Gioan Tông Ðồ và là bạn của Thánh Ignatiô ở Antioch, Thánh Polycarp, Giám mục của Smyrna (bây giờ là Izmir, Thổ Nhĩ Kỳ) là một vị lãnh đạo đáng kính của Kitô giáo trong tiền bán thế kỷ thứ II.

Tuy nhiên các vị lãnh đạo Giáo hội thuộc thế hệ thứ hai đã gặp những thử thách mà thế hệ trước không đề cập đến. Họ phải làm gì khi thế hệ chứng nhân thứ nhất ấy không còn nữa? Lời dạy dỗ xác thực của Chúa Giêsu phải truyền lại như thế nào? Phải trả lời thế nào với các câu hỏi chưa từng có?

Khi các tông đồ không còn ở trần gian nữa, các lạc thuyết bắt đầu xuất hiện ngụy trang chính giáo, sự bách hại lại mạnh mẽ và bắt đầu xuất hiện các tranh chấp về vấn đề phụng vụ mà Ðức Giêsu không bao giờ nói đến.s

Polycarp, một người thánh thiện và là Giám mục của Smyrna, chỉ thấy có một câu trả lời - trung thành với đời sống Ðức Giêsu và bắt chước đời sống ấy. Thánh Ignatiô nói với Thánh Polycarp "linh đạo của anh đặt nền móng nơi Thiên Chúa như trên một tảng đá không thể nào lay chuyển nổi."

Khi đối diện với lạc giáo, Thánh Polycarp có "bộ mặt bộc trực" đến nỗi Thánh Ignatiô phải thán phục, vì ngài đã bắt chước cách Ðức Giêsu trả lời người Pharisêu. Marcion, người lãnh đạo lạc thuyết nhị nguyên, khi đối chất với Ðức Polycarp đã yêu cầu ngài thừa nhận họ, "Polycarp, hãy thừa nhận chúng tôi." Ðức Polycarp trả lời, "Tôi thừa nhận ngài, phải, tôi thừa nhận ngài là đứa con của Satan."

Trái lại khi đối diện với các bất đồng của Kitô hữu, ngài lại rất khoan dung và tôn trọng. Một trong những tương tranh thời ấy là việc cử hành lễ Phục sinh. Ðông Phương, là xuất xứ của Thánh Polycarp, cử hành mầu nhiệm Vượt Qua như sự Thương Khó của Ðức Kitô tiếp theo sau bằng một Thánh Lễ vào ngày kế tiếp. Tây Phương cử hành lễ Phục sinh vào ngày Chúa Nhật sau tuần lễ Vượt qua. Khi Thánh Polycarp đến Rôma để thảo luận về vấn đề này với Ðức Giáo Hoàng Anicetus, họ bất đồng ý kiến. Nhưng các ngài cũng không thấy sự khác biệt trong đức tin Kitô Giáo. Và Ðức Anicetus đã yêu cầu Thánh Polycarp cử hành Thánh Lễ ngay trong nhà nguyện của Đức Giáo Hoàng.

Thánh Polycarp đối diện với sự bách hại cũng như Ðức Kitô đã làm. Chính giáo đoàn của ngài phải thán phục ngài vì đã theo sát "gương Phúc Âm" - không tìm cách để tử đạo như một số người đã làm, nhưng trốn tránh sự bách hại cho đến khi thánh ý Chúa được thể hiện như Ðức Giêsu Kitô đã làm. Họ coi đó là "Một dấu chỉ tình yêu nói lên sự khao khát không muốn chỉ cứu chuộc có một mình, nhưng còn cứu chuộc tất cả anh chị em Kitô Hữu."

Trong thời kỳ đẫm máu tử đạo Kitô hữu trong đấu trường, dân chúng trở nên điên cuồng đòi hỏi phải tìm bắt Thánh Polycarp, vì ngài nổi tiếng thánh thiện. Thánh Polycarp thật điềm tĩnh nhưng giáo dân thúc giục ngài đi trốn trong một nông trại gần thành phố. Quân lính tìm ra ngài sau khi tra khảo hai đứa bé. Ngài thết đãi họ ăn và xin họ để ngài cầu nguyện trước khi điệu về đấu trường.

Thấy đức tin vững vàng không lay chuyển của Thánh Polycarp, quan thống đốc ra lệnh thiêu sống, và khi quân lính châm lửa, nhiều người chứng kiến kể lại họ được nhìn thấy một phép lạ. Lửa cháy thành một vòng cung chung quanh thánh nhân, bao bọc ngài như các cánh buồm, và thay vì bị đốt cháy, ngài lại rực sáng như vàng đang chảy trong lò lửa. Khi quân lính thấy ngài không hề hấn gì, chúng đã lấy dao đâm ngài. Máu ngài chảy ra đã dập tắt ngọn lửa.

Quan thống đốc ra lệnh đốt xác thánh nhân mà không để giáo dân lấy xác, vì ông sợ họ sẽ thờ Thánh Polycarp mà không thờ tà thần của người Rôma. "Chứng từ" tử đạo của Thánh Polycarp là chứng từ được ghi nhận một cách xác thực về sự tử đạo của người tín hữu Kitô ngay từ thuở ban đầu. Ngài chết vào khoảng năm 156.

Trong nhiều lá thư của Thánh Polycarp, chỉ còn một lá ngài viết cho Giáo hội Philippi, Macedonia là còn giữ được cho đến ngày nay.

(HT 11-2-2024)

HIỆP LỄ VỚI ĐỨC MẸ

 

Ồ, đẹp lòng Chúa dường nào khi ta rước Chúa với tâm hồn trong sạch và được phủ với Máu Thánh Chúa! Chúa sẽ vui mừng âu yếm linh hồn trinh khiết trong sạch như thế biết bao!

 

Thánh Albetô Cả nói:" Thánh Thể từ Thiên đàng của đức Đồng trinh mà đến" (nghĩa là Đức Maria) Và Chúa Thánh Thể không tìm đâu ra được Thiên đàng ấy ngoài sự trinh khiết. Không ai có thể lặp lại, trừ các kẻ trinh khiết, lời người bạn tình trong Ca đệ Nhất vào lúc Hiệp Lễ:" Tất cả của tôi là tình yêu chân thật và tôi là tất cả của Ngài...Ngài đi vào thung lũng hoa huệ...xin hãy trở lại, Tình yêu của lòng tôi"(Ca 2, 16-17).

 

Một cách rất đáng khen để dọn lòng rước Chúa, là kêu cầu Đức Nữ Đồng trinh Vô nhiễm, cậy nhờ Người để ta có thể rước Chúa với lòng khiêm nhường, lòng trong sạch và tình mến của Người, tốt hơn ta xin Người đến rước Chúa Giêsu với ta.

 

Lối thực hành đạo đức này được các thánh rất khuyến khích, nhất là thánh Lui Mongpho, Phêrô Julianô Eymard, Anphongsô, và Maximiliên Kolbe.  Thánh Phêrô Julianô Eymard viết:" Cách dọn mình hay nhất để rước lễ là dọn mình với Đức Mẹ". Thánh nữ Têrêsa Hài Đồng cho ta một hình ảnh thích thú, hình ảnh linh hồn ngài như một em bé lúc ba, bốn tuổi, tóc và áo quần nhàu nát, xấu hổ không dám tiến lên hàng rào cung thánh rước Chúa, nhưng em đã cầu xin Đức Mẹ, và thánh nữ viết:" Lập tức Thánh Nữ Đồng Trinh đến với tôi, Ngài thay thế áo dơ của tôi, thắt tóc tôi bằng những sợi chỉ đẹp và thêm vào đó bông hoa xinh ...Thế là tôi trở nên quyến rũ và mạnh dạn tiến đến bàn tiệc các Thiên thần".

 

Ta hãy thử dùng phương pháp dọn mình này, rồi sẽ thấy hài lòng. Có thể nói như thánh Gemma khi ngài ngất trí rằng: "Đẹp thay khi Rước lễ với Mẹ Thiên đàng".

 

CÁM ƠN SAU HIỆP LỄ

 

Thời giờ cám ơn sau khi Hiệp Lễ là thời giờ rất lý tưởng cho cuộc trao đổi thân mật tình yêu với Chúa Giêsu. Hãy để hoàn toàn tình yêu tự hiến đáp lại tình yêu Chúa với tất cả tấm lòng, không còn phải là hai nhưng là một trong linh hồn và trong thân xác. Hãy để cho tình yêu sống động và hiệp nhất, Ngài trong ta và ta trong Ngài, để ta có thể được tiêu tan trong tình yêu độc nhất và hiệp nhất của Chúa Giêsu. Thánh nữ Gemma thưa với Chúa cách thân tình rằng: "Chúa là mồi tình yêu của con như con là đối tượng của tình yêu vô biên Chúa".

 

Thánh Gioan Tông đồ viết:" Phúc cho những ai được mời đến dự tiệc Chiên Chúa"(Ap 19,9). Thực vậy, Linh hồn đón nhận Thánh Thể cách sốt mến, sẽ nhận ra sự hiệp nhất trinh khiết Thiên Đàng, tình yêu đôi bạn của Chúa Giêsu: Linh hồn có thể thưa với Phu Quân Giêsu cách ân tình như người bạn trong Ca Đệ Nhất rằng: "Xin để Ngài hôn tôi bằng môi miệng của Ngài" (Ca 1,1).

 

Cảm ơn sau Hiệp Lễ là thấy trước một phần, ngay khi còn ở dương gian, tình yêu sẽ  đạt được trên Thiên Đàng. Thực vậy, trên trời, ta yêu mến Chúa Giêsu thế nào, nếu ta không được nên một với Ngài đời đời? Ôi Chúa Giêsu yêu dấu, Chúa Giêsu dịu dàng, con phải cám ơn Chúa chừng nào khi con được Chúa cho con Rước Chúa, thánh nữ Gemma đã chẳng có lý sao khi người nói, trên Thiên Đàng tôi sẽ phải cám ơn Chúa vì được Hiệp Lễ hơn tất cả các ơn khác. Ôi Chúa Giêsu, thật là phép lạ tình yêu khi con được hoàn toàn kết hợp cùng Chúa.

 

(Trích sách Mến yêu Thánh Thể, kỳ I)

 

Ngày 17 tháng 2 - BẢY ANH EM LẬP DÒNG TÔI TỚ ĐỨC MẸ

Bảy thánh này là những thương gia tên tuổi miền Florence. Là những người có thế giá và giàu có nhưng các Ngài không muốn, các Ngài còn muốn hướng tới một đời sống thánh thiện. Chính vì thế mà các Ngài đã họp lại thành một nhóm huynh đệ đặc biệt tôn sùng Đức Trinh Nữ.

Cách thức các ngài trở thành những người lập dòng Tôi Tớ cũng thật đặc biệt. Vào ngày lễ Đức Mẹ hồn xác lên trời, khi bảy anh em đang chìm đắm trong cầu nguyện thì Đức Mẹ đã hiện ra với các ngài. Đức Mẹ gợi hứng cho các ngài từ bỏ thế gian và sống cho riêng mình Thiên Chúa. Sau nhiều năm sống như các ẩn sĩ, các ngài đến gặp đức giám mục và xin đức giám mục ban cho một luật sống để tuân giữ. Vị giám mục khuyến khích các ngài hãy cầu nguyện và xin Đức Mẹ soi sáng hướng dẫn. Rồi một ngày kia Đức Mẹ lại hiện đến với các ngài, mình vận một áo dòng màu đen, bên cạnh là một thiên thần mang theo một cuộn giấy với hàng chữ: “Những Tôi Tớ Đức Mẹ.” Trong thị kiến này, Đức Mẹ nói rằng Đức Mẹ đã chọn các ngài làm tôi tớ của Người. Đức Mẹ xin các ngài mang tu phục màu đen. Và đây chính là bộ tu phục các ngài đã vận từ năm 1240. Các ngài cũng bắt đầu sống cuộc đời tu trì theo luật dòng Thánh Augustinô.

Các ngài đã giúp nhau yêu mến và phục vụ Thiên Chúa. Sáu người trong nhóm được thụ phong linh mục. Tên của sáu vị là: Bôphiliô, Amađêô, Hiuzơ, Sôstơns, Manêtô và Buônagiunta. Vị sáng lập thứ bảy, Alêxis, ở lại làm tu sĩ vĩnh viễn. Với lòng khiêm nhượng, ngài đã không chọn làm linh mục.

Có nhiều anh em đã đến xin gia nhập hiệp hội của các ngài. Các ngài được biết đến dưới danh hiệu “Những Đầy Tớ của Đức Mẹ” hay “Những Người Tôi Tớ.”

Dòng Tôi Tớ Đức Mẹ được Tòa Thánh Vatican chấp nhận năm 1259. Bảy vị sáng lập thánh thiện này đã được Đức Thánh cha Lêô XIII tôn phong hiển thánh năm 1888.

BÀI HỌC:

Các thánh của dòng “Những người tôi tớ” đã chọn 4 qui tắc sau đây để sống cuộc đời của mình:

1. Về đời sống: Cả bảy anh em đều nhất quyết giữ mình độc thân hoặc đời sống khiết tịnh trọn đời, mặc dầu có người chưa lập gia đình, người thì đã thành hôn, người khác lại đã thoát khỏi vướng bận phu thê vì lẽ bạn mình đã chết.

2.Về mặt xã hội: trong bảy anh em, người làm thương mại, kẻ trao đổi hàng hoá, người lại làm nghề buôn. Nhưng khi đã tìm được ngọc quý tức là dòng tu, thì không những anh em phân phát tất cả tài sản cho kẻ nghèo, mà còn vui vẻ dâng mình phục vụ Thiên Chúa và Đức Mẹ cách trung thành.

3. Đặc điểm nổi bật là lòng kính mến Đức Mẹ. Ở Florence bấy giờ có một hội kính Đức Mẹ, thành lập đã từ xưa. Vì hội đã có từ lâu đời nên các thành viên trong hội đã có một đời sống tốt đẹp thánh thiện vượt xa các hội khác và được coi là hội lớn của Đức Mẹ. Bảy anh em trước khi đến sống chung với nhau, đã ở trong hội này, họ tỏ ra yêu mến Đức Mẹ cách đặc biệt.

4. Về đời sống đời sống thiêng liêng, các Ngài hết lòng yêu mến Thiên Chúa với một tình yêu tuyệt đối, tôn vinh và sống theo đúng luật của Chúa trong tư tưởng lời nói và việc làm.

(HT 4-2-2024)

5/2 - Thánh Agatha (c. 251?)

Cũng như trường hợp của Thánh Agnes, vị đồng trinh tử đạo thời Giáo Hội tiên khởi, chúng ta không có dữ kiện lịch sử chắc chắn về Thánh Agatha, ngoại trừ sự kiện ngài chịu tử đạo ở Sicily trong thời kỳ cấm đạo của hoàng đế Rôma là Decius năm 251.

Theo truyền thuyết, ngài sinh trưởng trong một gia đình giầu có. Khi còn trẻ, ngài đã tận hiến cuộc đời cho Thiên Chúa, và từ chối bất cứ lời cầu hôn nào. Một trong những người say mê ngài là Quintian, một người có địa vị cao trong xã hội nên ông nghĩ rằng có thể ép buộc thánh nữ. Biết ngài là Kitô Hữu nên ông ra lệnh bắt giữ và đưa ra xét xử -- bởi chính ông. Hy vọng rằng vì sợ hãi sự tra tấn và cái chết, thánh nữ sẽ đành phải trao thân cho ông. Nhưng ngài nhất quyết tin tưởng vào Thiên Chúa, và cầu nguyện rằng: "Lạy Ðức Giêsu Kitô, là Chúa mọi sự! Ngài đã thấy lòng con, Ngài biết con muốn gì. Xin hãy làm chủ toàn thể con người của con -- chỉ mình Chúa mà thôi. Con là chiên của Ngài; xin giúp con vượt qua sự dữ một cách xứng đáng."

Sau đó, Quintian tống Agatha vào nhà gái điếm với hy vọng ngài sẽ thay đổi ý định. Sau một tháng bị đánh đập và xỉ nhục, Quintian lại đưa ngài ra xét xử, nhưng Thánh Agatha vẫn không lay chuyển, vẫn can đảm tuyên xưng rằng chỉ một mình Chúa Giêsu mới có thể ban cho ngài sự tự do. Quintian lại tống ngài vào ngục thay vì nhà gái điếm. Và khi ngài tiếp tục tuyên xưng đức tin nơi Chúa Giêsu, Quintian ra lệnh tra tấn. Trước khi chết, ngài cầu nguyện: "Lạy Chúa, là Ðấng dựng nên con, Ngài đã gìn giữ con từ khi còn trong nôi. Bởi tình yêu thế gian Ngài đã dẫn dắt con và ban cho con sự kiên nhẫn để chịu đựng đau khổ. Xin hãy nhận lấy linh hồn con."

Ngài được coi là quan thầy của xứ Palermo và Catania.

 

8/2 THÁNH HIÊRONIMÔ EMILIANÔ

Thánh Hiêronimô sinh tại Venise nước Ý vào năm 1481 trong một gia đình đạo đức. Vào tuổi trưởng thành như bao chàng trai khác thời đó, Thánh Hiêronimô gia nhập quân đội Ý để cùng với đất nước bảo vệ miền Castelnovo và miền Quero, thành phố đang bị địch quân chiếm đóng. Như các người lính khác, thánh nhân bị địch bắt làm tù binh và Ngài được Mẹ Maria cứu thoát một cách lạ lùng. Thánh nhân có một tấm lòng bác ái siêu vời, vì thế, Ngài hướng về các trẻ em mồ côi, những trẻ em bị mất cha mất mẹ, giáo dục và yêu thương chúng theo tinh thần Kitô giáo. Bắt đầu công việc bác ái từ thành Venise, thánh nhân rảo qua các miền khác như Brescia, Berfame, Côme và hướng dẫn, điều hành nhiều viện mồ côi và nhiều hội đoàn bác ái. Với tinh thần quảng đại, lòng bác ái vị tha, sự quan tâm yêu thương người nghèo, trẻ mồ côi, thánh nhân đã dừng chân ở Somasque, một miền quê hẻo lánh tại Bergame.

THÁNH NHÂN LẬP DÒNG BÁC ÁI PHỤC VỤ BỆNH NHÂN VÀ TRẺ EM MỒ CÔI:

Thánh Gioan đã ghi lại lời Chúa:” Mọi người sẽ nhận biết anh em là môn đệ của Thầy ở điểm này: là anh em có lòng thương yêu nhau” (Ga 13, 35). Tại Somasque, thánh nhân được ơn soi sáng của Chúa và sự thúc đẩy của Chúa Thánh Thần, Ngài đã lập một Hội Dòng mới lấy tên là Somasque và Dòng của Ngài đã được Đức Thánh Cha Piô V phê chuẩn. Dòng của thánh nhân thành lập có mục đích chăm sóc bệnh nhân và lo cho các em cô nhi, các trẻ mồ côi không ai chăm sóc. Năm 1537, Ngài bị lây nhiễm bệnh đang khi hăng say săn sóc bệnh nhân và qua đời lúc 56 tuổi.

10/2 THÁNH SCOLASTICA

 

Thánh Scolastica và thánh Bênêđitô là hai anh em sinh đôi. Người là em ruột của thánh Biển Đức. Hai anh em thánh Scolastica được sinh ra trong một gia đình thánh thiện, quảng đại và bác ái, giầu sang miền Norcia. Hai anh em vừa mở mắt chào đời được mấy tháng đã vội mồ côi mẹ. Hai anh em chỉ biết sống nương nhờ vào tình thương ấp ủ của người Cha hiền từ, đạo đức. Trong cảnh gà trống nuôi con, ông Eurôpiô càng tỏ ra là người cha nhân từ, luôn yêu thương con cái với một tấm lòng rộng mở bao la để bù đắp những thiếu thốn của tình mẫu tử. Lớn lên, hai anh em thánh Scolastica và Biển Đức được Cha yêu thương cho đến trường học. Hai thánh nhân đã hết mực yêu thương nhau, khuyên nhủ nhau học hành đến nơi đến chốn để không phụ lòng người Cha đã hết mình yêu thương các Ngài. Hai thánh nhân luôn bắt chước gương nhân đức của Cha mình, lòng yêu mến Chúa Thánh Thần, Đấng soi sáng tâm trí của các Ngài. Khi thành đạt, hai anh em lại chung một chí hướng tận hiến mình cho Chúa để phụng sự Chúa và phục vụ các linh hồn.

 

Thánh Biển Đức đã lập Dòng, em của Ngài là thánh nữ Scolastica cũng lập nhiều nhà dòng. Hai anh em thánh, ra qui ước với nhau là một năm các Ngài gặp nhau một lần để bàn hỏi đường nhân đức và thăm hỏi nhau. Ba ngày sau gặp gỡ nhau, thánh Biển đức thấy linh hồn của em mình xinh đẹp, sáng láng như chim bồ câu nhẹ nhàng bay về Nước Trời. Tâm hồn đầy hân hoan, vui sướng, thánh Biển đức dâng lời cảm tạ tri ân Thiên Chúa và sai người đem xác thánh Scolastica về chôn cất trong nhà dòng. Giáo Hội vì nhân đức tuyệt vời của thánh nữ về đức trinh khiết và tinh thần tận hiến trọn vẹn đã tôn phong hiển thánh cho Ngài.

(HT 28-1-2024)

TỪ THÁNH GIÁ ĐẾN THÁNH THỂ

          Lễ suy tôn Thánh Giá (ngày 14/9/), Giáo Hội mời gọi chúng ta nhận ra tình yêu Thiên Chúa được thể hiện trong cuộc thương khó Đức Giêsu, và đỉnh cao của tình yêu Thiên Chúa là cái chết của Đức Kitô trên thập giá tại đồi Can-vê. Khi tham dự Thánh Lễ, Giáo Hội trình bày mầu nhiệm Chúa Giê-su hiến tế chính thân mình trên thập giá, làm của lễ dâng lên Chúa Cha và qua cái chết vì tình yêu này, Giáo Hội được khai sinh và loan truyền mầu nhiệm Thiên Chúa yêu thương loài người và mời gọi Kitô hữu chiêm nghiệm để sống mầu nhiệm “Thánh Giá đến Thánh Thể” trong cuộc sống hàng ngày.        

          “Ai muốn theo tôi, phải từ bỏ chính mình, vác thập giá mình hằng ngày mà theo” (Lc 9, 24) Không có một tôn giáo nào lấy biểu tượng cho tôn giáo của mình bằng hình ảnh cây thập giá với một người bị đóng đinh trên đó như Kitô giáo của chúng ta. Nhìn vào hình ảnh của một người bị chết trần trụi và rất đau thương với mũ gai cuốn trên đầu và khiến cho ai nhìn vào cũng rùng mình và khiếp sợ. Vậy tại sao, Thiên Chúa Cha để Con Một của Ngài lãnh nhận một hình phạt nhục nhã nhất thế gian, hình phạt chỉ dành cho người phản bội tổ quốc hay tên trộm cướp như Barnaba trong cuộc xứ án Chúa mà Chúa Kitô bị xếp ngang hàng với tội xúi dân làm loạn chống lại đế quốc Rôma, “điều người Do Thái coi là ô nhục, không thể chấp nhận, và dân ngoại cho là điên rồ” (1 Cr 1,23)

          Con đường Chúa đi, đích thực là một con đường chẳng ai có thể hiểu nỗi, vì nó đi ngược lại hoàn toàn với những gì lý trí con người có thể nghĩ tới và cảm xúc con người có thể tuân theo. Nhưng thập giá có thân thể Đấng Cứu Thế tựa vào, thì với người Kitô hữu, nó lại trở thành dấu chỉ của tình yêu, của vinh quang và của chiến thắng.

          Chúa không nói chúng ta đi tìm Thập giá, nhưng là hãy vác lấy Thập giá mình. Một cách nào đó, không ai có thể thoát khỏi Thập giá trong cuộc sống...Đau khổ không phải là một đày đọa con người phải gánh chịu, mà là một phương thế nên “Thánh”. Mỗi người là một Thập giá, mỗi ngày một Thập giá. Ai trong chúng ta cũng đang chịu một đau khổ nào đó, hãy nghĩ đến tình yêu Chúa mà đón nhận. Ước gì khổ đau “Thánh” là chính thập giá sẽ luyện chúng ta để mỗi lúc được kết hợp với Chúa mật thiết hơn. Vâng, chính trong tình yêu mọi gánh nặng là nhục nhã, đau thương ê chề và bị bỏ rơi sẽ trở nên nhẹ nhàng, như cha thánh Eymard đã trải nghiệm trong suốt cuộc đời của Ngài. Ngài cảm nhận, nhờ vào tình yêu của Chúa Thánh Thể nên Ngài nói “mỗi ngày 15 phút trước Thánh thể bạn sẽ tìm được sức mạnh”. Chúng ta nên nhó rằng Chúa không bao giờ đặt trên vai chúng ta một thập giá nặng hơn đôi vai của chúng ta, nên chúng ta an tâm vì “Ơn Chúa đủ cho con” (2Cr 12,9)

          “Ai ăn thịt và uống máu tôi, thì được sống muôn đời, và tôi sẽ cho người ấy sống lại vào ngày sau hết” (Ga 6, 54). Chúa mời gọi chúng ta “ăn thịt và uống máu của Ngài”, lời của Đức Giêsu mời gọi chúng ta hướng đến mầu nhiệm Vượt Qua của Người. Hay nói cách khác là đón nhận những “thập giá” hàng ngày là bệnh tật, nghèo khổ hay bị sỉ nhục, bị hiểu lầm mà vẫn kiên nhẫn đón nhận trong sự kết hợp với Đức Chúa Giêsu như trong ngắm thứ thứ hai mùa Thương: “Chúa Giêsu chịu đánh đòn, ta hãy xin cho được hãm mình chịu khó bằng lòng”.

          Thật vậy, “ăn thịt và uống máu của Ngài”, theo nghĩa ẩn dụ, là khi chúng ta cử hành Thánh Lễ, là mở lòng ra, mở từng ngày sống ra và mở cuộc đời của chúng ta ra, để đón nhận ơn tái sinh mà Ngài thông truyền cho chúng ta từ mầu nhiệm Thập Giá và Phục Sinh. Và đó chính là con đường dẫn chúng ta đến sự sống đời đời, để chúng ta ở lại trong Ngài và Ngài ở lại trong chúng ta, và để chúng ta sống nhờ Ngài.

          “Việc cử hành Lễ Tưởng niệm của Chúa luôn là trung tâm của đời sống chúng tôi, với tư cách cá nhân hay những thành viên của gia đình. Đây là khởi điểm cho chúng tôi thấu hiểu về Thánh Thể và cũng là nguồn khởi hứng cho việc cầu nguyện và dấn thân của chúng tôi.” (LS số 7).

          “Ðứng gần thập giá Ðức Giêsu, có thân mẫu Người” (Ga.19,25). Đức Mẹ Maria đã đón nhận Thánh Thể là chính mầu nhiệm nhập thể, Con Thiên Chúa làm người trong cung lòng Mẹ, là thân xác Đức Giêsu được lớn lên trong vòng tay yêu thương của Mẹ Maria, và mẹ đã trở thành môn đệ Chúa Giêsu khi lắng nghe lời Chúa giảng dạy trong ba năm truyền giáo.

           Đức Maria là người Nữ Thánh Thể khi cưu mang Ngôi Hai làm người, và sau ngày Chúa Lên Trời, Mẹ đã cùng các Tông đồ là Giáo Hội sơ khai cử hành nghi “Lễ Bẻ bánh” là đón nhận Thánh Thể Chúa. Nguyện xin Mẹ Thánh Thể phù hộ chúng ta sống tâm tình của Mẹ để vui lòng đón nhận niềm vui và nỗi buồn trong cuộc sống để hiệp dâng trong Thánh lễ, đem lại nguồn vui có Chúa và Đức Mẹ đồng hành trên dương thế.

Anh chị em thân mến!

          Sống sung mãn mầu nhiệm Thánh Thể và giãi bày ý nghĩa của mầu nhiệm Thánh Thể, chính là sống mầu nhiệm Thánh Giá trong cuộc sống hàng ngày và kết hợp với Chúa Thánh Thể khi tham dự Thánh lễ hay Rước lễ thiêng liêng, chúng ta sẽ hân hoan vui mừng vì mang trong mình mầu nhiệm Phục sinh, để ngày mỗi ngày, chúng ta trở nên đồng hình đồng dạng với Đức Kitô.

          Nguyện xin Đức Mẹ Thánh Thể và cha Thánh Eymard, cầu bầu cho chúng con biết làm cho thập giá đau thương trở thánh Thánh Giá yêu thương, Thánh Giá nở hoa làm cho cuộc sống thêm ngát hương tình Chúa và tình người. 

Lm. Giuse Phan Ngọc Trợ, SSS


31 Tháng Giêng - Thánh Gioan Bosco (1815 - 1888)

Chính nguyên tắc giáo dục của Thánh Gioan Bosco đã được sử dụng rộng rãi trong các trường học ngày nay. Ðó là một hệ thống ngăn ngừa, loại bỏ các hình phạt thể xác và đưa các học sinh vào một môi trường lành mạnh ít có cơ hội phạm tội. Ngài cổ võ việc thường xuyên lãnh nhận bí tích Hòa Giải và Thánh Thể. Ngài pha trộn phương cách dạy giáo lý và sự hướng dẫn của một người cha, nhằm kết hợp đời sống tâm linh và công việc, việc học và việc chơi đùa.

Ðược khuyến khích đi tu để có thể giúp cho các trẻ em, Gioan thụ phong linh mục năm 1841. Công việc phục vụ giới trẻ của ngài khởi sự khi ngài gặp một em mồ côi và giúp em chuẩn bị Rước Lễ lần đầu. Sau đó ngài quy tụ các người trẻ lại và chỉ dạy họ về giáo lý.

Sau thời gian làm tuyên uý cho một trại tế bần của các thiếu nữ, Cha Gioan mở nhà trường Thánh Phanxicô "de Sales" cho các em trai. Một vài người bảo trợ giầu có và quyền thế đã giúp đỡ tài chánh, nên ngài có thể mở hai trường dạy nghề cho các em trai, trường dạy đóng giầy và dạy may quần áo.

Vào năm 1856, số các em theo học tại hai trường đã lên đến 150 em, và có thêm một máy in để xuất bản các tài liệu giáo lý. Sự quan tâm của ngài đến việc giáo dục và xuất bản khiến ngài xứng đáng là quan thầy của các người tập sự trẻ tuổi và các nhà xuất bản Công Giáo.

Tiếng tăm của Cha Gioan ngày càng lan rộng và, vào năm 1850, ngài phải tự huấn luyện các người trẻ muốn theo đuổi con đường của ngài vì lúc ấy thật khó để duy trì ơn thiên triệu. Năm 1854, một cách bán chính thức, Cha Gioan và những người theo ngài đồng ý đứng dưới tên tổ chức Thánh Phanxicô "de Sales".

Với sự hỗ trợ của Ðức Giáo Hoàng Piô IX, Cha Gioan quy tụ 17 người và thành lập dòng Salesian vào năm 1859. Hoạt động của dòng nhắm đến việc giáo dục và công cuộc truyền giáo. Sau này, ngài tổ chức dòng Salesian nữ để giúp đỡ các thiếu nữ.

Ngài từ trần năm 1888 lúc bảy mươi hai tuổi.

Lời Bàn:

Thánh Gioan Bosco giáo dục toàn thể con người -- thể xác và linh hồn. Ngài tin rằng tình yêu Ðức Kitô và sự tin tưởng của chúng ta vào tình yêu ấy phải thấm nhập vào tất cả sinh hoạt của chúng ta -- học hành, chơi đùa, làm việc. Ðối với Thánh Gioan Bosco, là một Kitô Hữu có nghĩa phải luôn luôn nỗ lực, không chỉ một tuần một lần, xem lễ ngày Chúa Nhật là đủ. Chính khi tìm kiếm Thiên Chúa trong sinh hoạt hàng ngày, hãy để tình yêu ấy hướng dẫn chúng ta. Tuy nhiên, Thánh Gioan nhận ra được tầm quan trọng của sự huấn nghệ và giá trị con người cũng như sự tự trọng do bởi tài nghệ và khả năng làm việc, do đó ngài cũng huấn luyện các người trẻ trong các ngành nghề.

Lời Trích:

"Mọi sự giáo dục đều dạy một triết lý sống; nếu không bởi lời nói thì bởi sự đề nghị, sự gợi ý, và bởi môi trường. Mỗi một phần của giáo dục đều có liên hệ với nhau. Nếu tất cả sự tổng hợp ấy không đem lại một cái nhìn tổng quát về đời sống, thì đó không phải là giáo dục" (G.K. Chesterton, The Common Man).

(HT 21-1-2024)

TÔNG THƯ "MANE NOBISCUM"

CỦA ĐỨC CỐ GIÁO HOÀNG GIOAN PHAOLÔ II (tt)

 

Từ ngữ liên đới:

Từ ngữ liên đới không có trong các sách tin mừng, nhưng xuất hiện trong các phong trào xã hội, nối dài từ ngữ bác ái của kitô giáo, mà nội dung được coi như một giải đáp mới, hợp lý và hữu hiệu cho các vấn đề xã hội. Ngày nay mọi người đang chạy theo kinh tế thị trường, và cố gắng sữa chữa những thiếu sót của chủ nghĩa tự do kinh tế bằng một số tư tưởng xã hội kitô giáo. Từ ngữ liên đới do đó trở thành phổ biến, không những trong những môi trường thế tục, mà cả trong những môi trường đạo đức tôn giáo.

Sự khôn ngoan đòi hỏi chúng ta thận trọng, vì động cơ mạnh nhất nơi nhiều người, cá nhân cũng như tổ chức xã hội, vẫn là khuynh hướng nghiêng về lợi nhuận, về thế lực của đồng tiền. Người công giáo nên noi gương Đức Thánh Cha Gioan Phaolô II công nhận những sai lầm của các kitô hữu trong lịch sử. Nhưng công bằng mà nói, cũng phải đề cập tới sự hy sinh và tinh thần phục vụ của nhiều  kitô hữu đã làm xoa dịu bớt những đau khổ của loài người.

Trong những thập niên vừa qua, nhờ những giáo huấn luân lý của Đức Thánh Cha Gioan Phaolô II, từ ngữ liên đới đã được kitô giáo hoá dần dần và được biến đổi sâu sắc, có thể được thêm vào hai từ quan trọng của kitô giáo là tạ ơn và hiệp thông. Trong chiều hướng này, liên đới có nghĩa: những người này chịu trách nhiệm về những người kia, những ai khoẻ mạnh chịu trách nhiệm về những người đau yếu, những ai giàu có chịu trách nhiệm về những người nghèo khổ, những vùng phát triển chịu trách nhiệm về những vùng chậm phát triển.

Ngày hôm nay tiến trình toàn cầu hoá là một xu thế không thể đảo ngược. Nhưng nó có thể thực hiện theo hai chiều hướng: một là hoàn toàn vì lợi nhuận, hai là thật sự vì con người và cho con người. Sự toàn cầu hoá theo chiều hướng tốt đẹp là cơ hội cho mọi người trả lẽ về những người khác, là nơi mà mỗi người mang gánh nặng của người khác. Chỉ có thể làm được điều đó, nếu chúng ta chú trọng đến những giá trị tôn giáo và đạo đức. Những giá trị này phải có chỗ đứng trong những quyết định về kinh tế. Nếu toàn cầu hoá kỷ thuật và kinh tế mà không kèm theo sự khai mở mới về tinh thần  và ý thức về Thiên Chúa là nguồn gốc của mọi trách nhiệm, thì sẽ đưa đến đổ vỡ.

Mục đích của kitô giáo nhằm hợp nhất nhân loại, nhờ một Chúa duy nhất, một Bánh duy nhất làm cho chúng ta trở nên một thân thể. Trong khi sự hợp nhất bên ngoài của nhân loại đã là một thực tế không chối cải được, người kitô hữu không thể từ chối trách nhiệm góp phần cho thế giới xoay chiều theo hướng tốt.

Bí tích Thánh Thể là nguồn gốc và là dự phóng cho sứ vụ của người kitô hữu. Việc gặp gỡ Chúa Kitô trong bí tích Thánh thể thúc bách các kitô hữu dấn thân loan báo Tin mừng Cứu độ: “Thật vậy, cho tới ngày Chúa đến, mỗi lần ăn Bánh và uống Chén này, là anh em loan truyền Chúa đã chịu chết” (1 Cr 11,26). (xem Mane nobiscum số 24-25)

Đời sống thánh thể là một cách thức hiện hữu được chuyển từ Chúa Kitô sang cho người kitô hữu, và nhờ chứng tá của họ, được lan toả trong văn hoá xã hội. Để có thể thực hiện điều đó, người tín hữu phải dần dần hấp thụ những giá trị mà bí tích Thánh thể diễn tả, những thái độ mà Thánh thể khơi gợi, những quyết tâm mà Thánh thể làm nảy sinh. Ba từ ngữ quan trọng trong dự phóng Thánh thể cần chuyển từ Chúa Giêsu sang cho người kitô hữu là xin vâng, cảm ơn và amen. Đưa dự phóng Thánh thể vào cuộc sống thường ngày là làm chứng rằng thực tại con người sẽ vô nghĩa nếu không quy chiếu về Đấng Tạo Hoá. (x.ib. số 25-26)

Đức Cha Phaolô BÙI VĂN ĐỌC (kỳ VI và hết)

 

23/1 – THÁNH MARIANNE COPE, TRINH NỮ (1838-1918)

Bệnh phong cùi làm dân Hawaii hoang mang hồi thế kỷ 19, nhưng chứng bệnh này vẫn nảy sinh lòng đại lượng ở người phụ nữ được biết đến là Mẹ Marianne ở Molokai. Lòng can đảm của bà giúp cải thiện các nạn nhân ở Hawaii, một vùng thuộc Hoa kỳ thời bà sống, năm 1898.

Lòng đại lượng và can đảm của Mẹ Marianne được kính nhớ ngày 14-5-2005, ngày Mẹ được tuyên thánh tại Rôma. ĐHY Jose Saraiva Martins, Bộ trưởng Bộ phong thánh, nói rằng Mẹ là một phụ nữ nói với thế giới bằng “ngôn ngữ của chân lý và yêu thương.” ĐHY Martins, người chủ tế lễ tuyên thánh tại Đại Giáo đường Thánh Phêrô, đã gọi cuộc đời Mẹ là “tuyệt tác của Hồng ân Thiên Chúa.” Nói về tình thương đặc biệt của Mẹ dành cho những người phong cùi, ĐHY Martins nói: “Mẹ nhìn thấy khuôn mặt đau khổ của Chúa Giêsu nơi những người phong cùi. Như người Samaritanô nhân hậu, Marianne đã trở nên hiền mẫu của họ.”

Ngày 23-1-1838, một bé gái được sinh ra là con của Peter và Barbara Cope, người vùng Hessen-Darmstadt, Đức quốc. Bé gái này được đặt theo tên người mẹ. Hai năm sau, gia đình Cope nhập cư Hoa kỳ và định cư ở Utica, New York. Bé gái Barbara lớn lên và làm việc trong một nhà máy cho đến tháng 8-1862 thì vào Dòng nữ Phanxicô ở Syracuse, New York. Sau khi tuyên khấn vào tháng 11-1863, nữ tu Barbara được gọi là Marianne, và bắt đầu dạy học tại trường của giáo xứ Mông Triệu.

Nữ tu Marianne giữ chức vị cao ở vài nơi, hai lần là giáo tập trong hội dòng và ba lần làm trưởng Bệnh viện Thánh Giuse ở Syracuse, nơi Mẹ biết sẽ hữu ích trong thời gian ở Hawaii. Được bầu làm giám tỉnh năm 1877, Mẹ Marianne lại tái đắc cử năm 1881. Hai năm sau, chính quyền Hawaii tìm một người để điều hành Trạm Tiếp Nhận Kakaako (Kakaako Receiving Station) lo chăm sóc những người nghi bị phong cùi. Hơn 50 cộng đồng tôn giáo ở Hoa kỳ và Canada đều có yêu cầu. Khi đến dòng nữ ở Syracuse, 35 nữ tu đã tình nguyện ngay. Ngày 22-10-1883, Mẹ Marianne và 6 nữ tu đi Hawaii nhận nhiệm vụ tại Trạm Tiếp Nhận Kakaako ở ngoại ô Honolulu. Trên đảo Maui, các nữ tu mở bệnh viện và trường học cho các em gái.

Năm 1888, Mẹ Marianne và hai nữ tu đi Molokai để thành lập nhà mở cho các phụ nữ và các cô gái không có ai che chở. Chính quyền Hawaii khá lưỡng lự khi để phụ nữ đảm nhận nhiệm vụ khó khăn này. Họ không cần lo về Mẹ Marianne như vậy! Thật vậy, tại Molokai, Mẹ đã đảm trách nhà mở mà Chân phước Damien DeVeuster (+ 1889) đã thành lập cho nam giới và các em trai. Mẹ Marianne đã “đổi đời” ở Molokai bằng cách giới thiệu sự vệ sinh, niềm hãnh diện và sự vui vẻ cho kiều dân. Những chiếc khăn quàng màu sáng và những chiếc áo đầm xinh xắn dành cho phụ nữ là một phần kế hoạch của Mẹ.

Chính quyền Hawaii đã tặng Huân chương Hoàng gia (Royal Order) của Kapiolani cho Mẹ, và thi sĩ Robert Louis Stevenson đã nhớ đến Mẹ trong một bài thơ. Mẹ Marianne trung thành tiếp tục trách nhiệm. Nhiều cô gái Hawaii có ơn gọi tu trì và làm việc ở Molokai. Mẹ Marianne qua đời ngày 9-8-1918.

 

24/1 – THÁNH PHANXICÔ SALÊ, GIÁM MỤC TIẾN SĨ (1567-1622)

 

Người cha muốn Phanxicô làm luật sư để có thể thay thế vị trí thượng nghị sĩ tỉnh Savoy, Pháp quốc, vì thế Phanxicô được gởi tới để học luật. Sau khi nhận bằng tiến sĩ luật, ngài trở về nhà trình bày với cha mẹ về ước muốn làm linh mục. Cha ngài không đồng ý. Sau khi ngài nỗ lực và khôn ngoan thuyết phục, cha ngài đã đồng ý.

 

Phanxicô thụ phong linh mục và được bầu làm Tổng đại diện GP Geneva, rồi ngài chuyên đối phó với giáo phái Calvin. Phanxicô bắt đầu cảm hóa họ, đặc biệt ở quận Chablais. Bằng việc rao giảng và phân phát những tờ rơi mà ngài viết để giải thích về giáo lý Công giáo đích thực, ngài đã thành công đáng kể.

 

Lúc 35 tuổi, ngài dược bổ nhiệm Giám mục GP Geneva. Trong khi điều hành giáo phận, ngài tiếp tục rao giảng, giải tội và dạy giáo lý cho trẻ em. Tính cách hiền dịu của ngài là “bí quyết” để ngài chiếm được các linh hồn. Ngài thực hành châm ngôn do ngài đặt ra: “Một muỗng mật ong thu hút nhiều ruồi hơn một thùng giấm.” (A spoonful of honey attracts more flies than a barrelful of vinegar.) – Phần nào tương tự tục ngữ Việt Nam: “Mật ngọt chết ruồi.”

 

Ngoài hai cuốn sách nổi tiếng của ngài (The Introduction to the Devout Life và A Treatise on the Love of God – Giới thiệu Đời sống Thành kính và Luận thuyết về Tình yêu Thiên Chúa), ngài còn viết nhiều cuốn sách nhỏ (pamphlets) và nhiều lá thư. Sách ngài viết thể hiện tinh thần hiền hậu của ngài và được giới thiệu với người ngoại giáo. Ngài muốn làm cho họ hiểu rằng họ cũng được gọi để nên thánh. Ngài viết trong cuốn The Introduction to the Devout Life: “Đó là một sai lầm, hoặc là một dị giáo, khi nói lòng sùng đạo không tương thích với cuộc đời của binh sĩ, thương nhân, hoàng tử, hoặc phụ nữ có chồng,… Nhiều người đã gìn giữ sự hoàn hảo nơi sa mạc nhưng đã mất nó giữa thế gian.”

 

Mặc dù cuộc đời ngài tương đối ngắn ngủi và bận rộn, ngài đã dành thời gian cộng tác với Thánh Jane Frances de Chantal trong việc lập Dòng nữ Đức Mẹ Thăm Viếng (Sisters of the Visitation). Các nữ tu thực hành các nhân đức theo gương Đức Maria đi thăm thánh Êlidabét: khiêm nhường, sùng mộ và bác ái lẫn nhau. Họ bận rộn với việc thể hiện lòng nhân hậu đối với người nghèo và người bệnh. Ngày nay, một số cộng đoàn lo việc điều hành trường học, một số khác sống chiêm niệm nghiêm ngặt.

 

25/1 – THÁNH PHAOLÔ, TÔNG ĐỒ TRỞ LẠI

 

Cả cuộc đời thánh Phaolô có thể mô tả trong hai từ “kinh nghiệm” – cuộc gặp gỡ của ngài với Chúa Giêsu trên đường tới Damascus. Trong khoảnh khắc, ngài thấy rằng tất cả nhiệt huyết về cá tính mạnh mẽ của mình đều uổng phí, như sức mạnh của lực sĩ quyền anh nhún nhảy với dáng man rợ. Có lẽ ngài chưa bao giờ thấy Chúa Giêsu, người chỉ lớn hơn ngài vài tuổi, nhưng ngài đã thù ghét Chúa Giêsu một cách quá khích, khi ngài bắt đầu làm phiền Giáo hội: “...đến từng nhà, lôi cả đàn ông lẫn đàn bà đi tống ngục.” (Cv 8:3b) Ngày nay chính ngài được “xem xét,” được sở hữu, tất cả nỗ lực đến một mục đích là làm nô lệ của Đức Kitô trong sự hòa giải, là khí cụ giúp người khác nhận biết Đấng Cứu Thế.

 

Có một câu xác định thần học của Thánh Phaolô: “Tôi là Giêsu, người mà anh đang bắt bớ.” (Cv 9:5b) Chúa Giêsu xác nhận với mọi người một cách mầu nhiệm. Nhóm người thích Saolê đã bỏ của chạy lấy người như những tên tội phạm. Thánh Phaolô thấy Chúa Giêsu khỏa lấp những gì mình đã mù quáng theo đuổi. Từ đó, công việc duy nhất của ngài là “giúp mỗi người nên hoàn thiện trong Đức Kitô.” Thánh Phaolô xác định: “Chính vì mục đích ấy mà tôi phải vất vả chiến đấu, nhờ sức lực của Người hoạt động mạnh mẽ trong tôi.” (Cl 1:28b-29) Ngài cho biết: “Vì khi chúng tôi loan báo Tin Mừng cho anh em thì không phải chỉ có lời chúng tôi nói, mà còn có quyền năng, có Thánh Thần, và một niềm xác tín sâu xa.” (1 Tx 1:5a)

 

Cuộc đời Thánh Phaolô trở nên “bản tuyên ngôn” không ngừng và sống sứ điệp Thập giá: Các Kitô hữu chết cho tội và được mai táng với Đức Kitô. Họ chết cho những gì là tội và chưa được cứu độ trên thế gian. Họ là thụ tạo mới, thông phần chiến thắng của Đức Kitô và một ngày nào đó sẽ sống lại từ cõi chết như Đức Kitô. Qua Đức Kitô phục sinh, Chua Cha ban Thánh Thần trên họ, làm cho họ nên mới hoàn toàn.

 

Sứ điệp quan yếu của Thánh Phaolô gởi cho thế giới là: Người ta được cứu độ hoàn toàn nhờ Thiên Chúa, không nhờ bất cứ thứ gì mà người ta có thể làm. Niềm tin cứu độ là tặng phẩm của sự tín thác nơi Đức Kitô trọn vẹn, tự do, riêng tư, và yêu thương, niềm tín thác sẽ sinh hoa kết trái nhiều hơn là lề luật khả dĩ dự tính.


(HT 14-1-2024)

TÔNG THƯ "MANE NOBISCUM"

CỦA ĐỨC CỐ GIÁO HOÀNG GIOAN PHAOLÔ II (tt)

Từ ngữ Hiệp Thông:

Sự Hiệp thông với Chúa, chỉ có thể hiểu và sống trọn vẹn trong lòng Giáo hội. Chúng ta nên một với Chúa và nên một với nhau trong Chúa. Hiệp thông Thánh thể làm nên Hiệp thông Giáo hội; Hiệp thông Giáo hội cần thiết cho Hiệp thông Thánh thể. Đức thánh cha lập lại nhiều lần tư tưởng này trong thông điệp Giáo hội sống nhờ Thánh Thể cũng như trong tông thư Mane nobiscum. Trong mầu nhiệm Thánh thể, Chúa Giêsu kiến tạo sự Hiệp thông Giáo hội theo mẫu mực Hiệp thông Ba Ngôi: “để tất cả nên một, như Cha ở trong con và con ở trong Cha để họ cũng ở trong chúng ta. Như vậy, thế gian sẽ tin rằng Cha đã sai con” (Ga 17, 21).  (x. Mane nobiscum số 20)

Thượng Hội Đồng giám mục thế giới năm 1980, kỷ niệm 25 năm bế mạc Công Đồng Vatican II, đã coi ý tưởng Hiệp Thông là tư tưởng nồng cốt của Giáo Hội học Công Đồng. Từ ngữ Hiệp Thông hướng chúng ta đến Thánh thể là trọng tâm của Giáo Hội, và nhìn nơi sự tự hiến của Chúa Giêsu nền tảng cho sự gặp gỡ giữa Thiên Chúa và loài người. “Khi ta nâng chén chúc tụng mà cảm tạ Thiên Chúa, há chẳng phải là dự phần vào Máu Đức Ki-tô ư? Và khi ta cùng bẻ Bánh Thánh, đó chẳng phải là dự phần vào Thân Thể Người sao? Bởi vì chỉ có một tấm Bánh, và tất cả chúng ta chia sẻ cùng một Bánh ấy, nên tuy nhiều người, chúng ta cũng chỉ là một thân thể.” (1 Coritnô 10, 16 – 17).

Từ ngữ hiệp thông cắm rễ sâu trong bí tích Thánh Thể, đầu tiên có nghĩa là thông phần Mình và Máu Thánh Chúa. Theo quan niệm do thái, máu chỉ sự sống, nên khi chúng ta hiệp thông với Máu Thánh Chúa, có sự thấm nhập hổ tương giữa sự sống của Chúa và sự sống của chúng ta. Trong mầu nhiệm Thánh Thể, máu còn chỉ sự tự hiến của Chúa Giêsu, cuộc sống tự trao ban vì chúng ta và cho chúng ta. Thông phần với máu của Chúa là được hội nhập vào năng động đời sống của Chúa, của máu Chúa đổ ra, làm cho cuộc sống của chúng ta trở thành cuộc sống tự hiến, sống cho và sống vì tha nhân, giống như hình ảnh trái tim Chúa.

Bánh chỉ sự thông phần thân thể của Chúa Kitô, mà Phaolô so sánh với sự kết hợp giữa người nam và người nữ (1 Cr 6,17). Bánh, thức ăn manna mới mà Thiên Chúa ban cho chúng ta, là Chúa Kitô duy nhất được ban cho mọi người, Chúa Kitô mà chúng ta nhận lãnh trong bí tích Thánh Thể. Bánh ấy lớn hơn chúng ta, không bị thân xác chúng ta đồng hoá, nhưng làm cho chúng ta nên đồng hình đồng dạng với Chúa Kitô, trở thành chi thể của Người và nên một với nhau trong Người. Chúng ta ăn cùng một Chúa Kitô, được lôi kéo khỏi cá nhân đóng kín của mình và được đưa vào Đấng Lớn hơn ta. Chúng ta trở thành chi thể của nhau; hiệp thông với Chúa Kitô cũng là hiệp thông với nhau.

Một nền tu đức Hiệp Thông đương nhiên sẽ mang tính xã hội. Khi rước Chúa Kitô, chúng ta hướng cái nhìn về Người, để cho Người biến đổi ta. Nhờ sự kết hợp với Chúa Kitô, ta học cởi mở với mọi người, cởi mở với thế giới. Sự cởi mở ấy không chấm dứt ở nhà thờ, nhưng tiếp tục trong cuộc sống. Sự hiệp thông của cá nhân với Chúa và sự sống hiệp thông của Giáo hội gắn chặt với nhau. Giáo hội không là kết quả của một liên minh các cộng đồng. Nhưng Giáo Hội sinh ra từ Đấng Chúa Duy Nhất, và từ Người, làm thành một Giáo hội Duy Nhất, một Thân Thể Duy Nhất từ một bánh duy nhất.

Đoạn kinh thánh thứ hai cần lưu ý khi đề cập đến hiệp thông là thư thứ nhất của thánh Gioan (1 Ga 1,3-7): “Điều chúng tôi đã thấy và đã nghe, chúng tôi loan báo cho cả anh em nữa, để chính anh em cũng được hiệp thông với chúng tôi, mà chúng tôi thì hiệp thông với Chúa Cha và với Đức Giê-su Ki-tô, Con của Người. Những điều này, chúng tôi viết ra để niềm vui của chúng ta được nên trọn vẹn. Đây là lời loan báo của Đức Giê-su Ki-tô mà chúng tôi đã nghe, và nay chúng tôi loan báo cho anh em: Thiên Chúa là ánh sáng; nơi Người, không có một chút bóng tối nào. Nếu chúng ta nói là chúng ta hiệp thông với Người mà lại đi trong bóng tối, thì chúng ta nói dối và không hành động theo sự thật. Nhưng nếu chúng ta đi trong ánh sáng cũng như Thiên Chúa hằng ngự trong ánh sáng, thì chúng ta được hiệp thông với nhau, và máu Đức Giê-su, Con của Người, thanh tẩy chúng ta sạch hết mọi tội lỗi.”

Thánh Gioan nói đến ơn được gặp gỡ Ngôi Lời Nhập Thể, mà ngài đã thấy tận mắt, và tay ngài đã đụng chạm đến. Sự gặp gỡ đó đã cho ngài được hiệp thông với Chúa Cha và Con Thiên Chúa là Đức Giêsu Kitô. Sự hiệp thông với Thiên Chúa hằng sống ban cho con người ánh sáng, để nhận ra chân lý và tình yêu. Hiệp thông với Lời Sự Sống làm nên một đời sống tốt, làm cho cuộc sống trở thành tình yêu và sự hiệp thông với nhau. Ở đây Gioan và Phaolô gặp nhau: hiệp thông với Chúa Giêsu trở thành hiệp thông với Thiên Chúa, Đấng là ánh sáng và tình yêu, và hiệp thông với nhau trong tình yêu và chân lý.

Hình ảnh lý tưởng của Hiệp thông Giáo hội trong sách Công vụ các tông đồ là Cộng Đồng Giáo hội sơ khai họp lại chung quanh các Tông đồ, được quy tụ bởi Lời Chúa, sẵn sàng chia sẻ những của ăn tinh thần và của cải vật chất (Cv 2, 42- 47): “Các tín hữu chuyên cần nghe các Tông Đồ giảng dạy, luôn luôn hiệp thông với nhau, siêng năng tham dự lễ bẻ bánh, và cầu nguyện không ngừng”.

Đức Cha Phaolô BÙI VĂN ĐỌC (kỳ V)

 

17/01/2024 - Thánh Antôn ở Ai Cập (251 - 356)

Cuộc đời Thánh Antôn nhắc nhở chúng ta nhiều điểm về cuộc đời Thánh Phanxicô Assisi. Khi 20 tuổi, người thật cảm kích trước câu Phúc Âm, “Hãy đi và bán những gì anh có, và phân phát cho người nghèo” (Máccô 10:21b), và Thánh Antôn đã thực sự thi hành đúng như vậy với gia tài kếch sù của người. Thánh Antôn khác với Thánh Phanxicô ở cuộc đời ẩn dật. Người nhìn thấy thế gian đầy những cạm bẫy và đã sống nhân chứng cho Giáo Hội cũng như thế gian qua cuộc đời khổ hạnh nơi ẩn dật, đầy hy sinh hãm mình và cầu nguyện. Nhưng không vị thánh nào thực sự xa lánh xã hội, và Thánh Antôn đã thu hút người ta đến với người để được hướng dẫn và chữa lành tâm linh.

Lúc 54 tuổi, theo lời thỉnh cầu của nhiều người, người đã sáng lập một loại đan viện với các phòng ở rải rác cách nhau. Lúc 60 tuổi, người hy vọng sẽ là vị tử đạo trong thời tái bách hại của Rôma năm 311, và người đã không sợ nguy hiểm khi hỗ trợ tinh thần và giảng dạy đạo lý cho những người trong tù. Năm 88 tuổi, người chống với bè rối Arian (từ chối thiên tính của Ðức Kitô), vết thương to lớn ấy đã khiến Giáo Hội phải mất nhiều thế kỷ mới phục hồi được.

Ảnh Thánh Antôn thường được vẽ với thập giá hình chữ T, một cuốn sách và một con heo. Thập giá và con heo tượng trưng cho cuộc chiến dũng cảm của người chống với ma quỷ -- thập giá luôn luôn là phương tiện quyền lực giúp người chế ngự ma quỷ, được tượng trưng là con heo. Cuốn sách nói lên sở thích của người là “học hỏi từ thiên nhiên” thay vì sách vở in ấn.

Thánh Antôn chết trong cô độc khi người 105 tuổi.

20/1 – THÁNH FABIANÔ, GIÁO HOÀNG TỬ ĐẠO (+ khoảng 250)

K hi Thánh GH Anthêrô qua đời năm 236, một Công đồng được triệu tập về Rôma để bầu người kế vị. Fabianô là thường dân Rôma, từ vùng quê nhập cư thành phố với tư cách là giáo sĩ, và người ta đang chuẩn bị bầu Giáo hoàng mới. Và tân giáo hoàng chính là Fabianô, người Ý.

Theo Eusebius, sử gia của Giáo hội, một chim bồ câu bay vào và đậu trên đầu Fabianô. Dấu hiệu này khiến mọi người đồng tâm nhất trí bầu ngài. Ngài là người lãnh đạo xuất sắc, tổ chức cấu trúc giáo xứ như vẫn được áp dụng ngày nay. Ngài phát triển thói quen và các nghi lễ tôn vinh các tvị tử đạo trong các hầm mộ, và bổ nhiệm 14 học giả thu thập chứng cớ đời sống của các vị tử đạo để họ không bị quên lãng.

Ngài cai quản Giáo hội 14 năm và chịu tử đạo khoảng năm 250 trong thời Decius bách hại. Ngài bị họ hành quyết rất dã man. Thánh Cyprianô viết cho người kế vị rằng ĐGH Fabianô là người “độc nhất vô nhị” được vinh dự chết tương xứng với sự thánh thiện và sự thuần khiết của cuộc đời ngài. Tại hầm mộ Thánh Callistô, tảng đá trên mộ Thánh Fabianô bị bể làm tư, nhưng vẫn có thể nhìn thấy dòng chữ Hy Lạp ghi: “Fabianô, Giáo hoàng Tử đạo.”

20/1 – THÁNH SEBASTIANÔ, TỬ ĐẠO (257?-288?)

Lịch sử không có gì chắc chắn về Thánh Sebastianô, chỉ biết ngài là vị tử đạo Rôma, được tôn kính ở Milan ngay từ thời Thánh Ambrôsiô và được an táng ở Appian Way, có thể ở gần Đền thờ Thánh Sebastianô ngày nay. Lòng sùng kính ngài lan tỏa nhanh, và ngài được nhắc đến trong tiểu sử các vị tử đạo từ năm 350.

Truyền thuyết về Thánh Sebastianô quan trọng về nghệ thuật và có cách mô tả bằng hình tượng. Các học giả ngày nay đồng ý rằng có chuyện kể Thánh Sebastianô gia nhập quân đội Rôma, vì chỉ như vậy ngài mới có thể giúp đỡ các vị tử đạo mà không tạo sự nghi ngờ.

Cuối cùng ngài bị phát hiện, bị bắt trước mặt Hoàng đế Diocletian và bị giao cho đội bắn cung Mauritanian. Thi thể ngài đầy mũi tên găm vào và bị bỏ mặc. Những người đến lấy xác đem chôn thì thấy ngài còn sống. Rồi ngài bình phục nhưng không chịu trốn đi. Một hôm, ngài đứng gần chỗ Hoàng đế đi ngang qua, ngài đến gần Hoàng đế và tố cáo Hoàng đế đối xử độc ác với các Kitô hữu. Lần này ngài bị bắt và bị kết án tử hình. Thánh Sebastianô bị đánh đập cho đến chết.

(HT 7-1-2024)

TÔNG THƯ "MANE NOBISCUM"

CỦA ĐỨC CỐ GIÁO HOÀNG GIOAN PHAOLÔ II (tiếp theo)

Cử hành, tôn thờ, chiêm ngắm

Có một điều bị quên lãng khá nhiều trong những thập niên vừa qua mà Đức thánh cha Gioan Phaolô II nhắc đi nhắc lại trong thông điệp Giáo Hội sống nhờ Thánh Thể, và trong tông thư Mane nobiscum, đó là việc tôn thờ Chúa Kitô ngoài giờ thánh lễ.

Thánh Thể là mầu nhiệm cực trọng! Mầu nhiệm này trước hết phải được cử hành một cách tốt đẹp. Thánh lễ phải là trọng tâm của đời sống kitô hữu (xem Mane nobiscum số 17). Vì lẽ đó mà Đức thánh cha mời gọi các chủ chăn hãy lưu tâm tới huấn giáo dẫn vào mầu nhiệm (mystagogie), điều mà các thánh giáo phụ rất ưa thích. Giúp cho giáo dân hiểu được ý nghĩa của các dấu chỉ và lời đọc, và từ các dấu chỉ có thể đi vào mầu nhiệm, làm cho cuộc sống bám rễ sâu trong mầu nhiệm. Đức thánh cha yêu cầu học hỏi quy chế tổng quát của sách lễ Roma, để việc cử hành được nghiêm túc và sốt sắng. (x.số 17)

Nhưng có người nhấn mạnh vai trò của Thánh Lễ một cách lệch lạc, loại trừ mọi hình thức tôn thờ và sùng kính khác. Tại một số nhà thờ bên Tây Phương ngày nay, chỗ để Mình Thánh dành cho việc thờ phượng bị giảm thiểu tối đa, rất khó nhìn thấy, làm cho không còn bầu khí linh thiêng nữa. Thánh Lễ kéo dài nửa tiếng đồng hồ hay hơn một chút, không còn tạo được bầu khí của một cảnh vực thần linh cần thiết cho những người muốn tôn thờ Chúa cách xứng đáng. Thời gian và không gian bị giảm thiểu, Thánh Lễ trong thực tế đã trở thành một hòn đảo nhỏ trong thời gian cả một ngày, một tuần, thời gian bận rộn với công việc và nhiều thứ khác. Muốn nhìn vấn đề cách thật đúng đắn, đừng xem việc thờ phượng Thánh Thể ngoài giờ lễ cạnh tranh với Thánh Lễ, làm cho Thánh Lễ không còn vai trò trung tâm nữa. Trái lại hãy xem đó như điều kiện, như môi sinh cần thiết. Việc cử hành Thánh Lễ chỉ có thể sốt sắng và mang lại nhiều hoa trái trong một không gian thánh thiện.

Đức Thánh Cha Gioan Phaolô II đã đưa ra một vài suy nghĩ vừa sâu sắc, vừa thực tế, giúp  chúng ta khám phá lại tương quan giữa thờ phượng ngoài thánh lễ và chính Thánh Lễ. Nhờ việc thờ phượng ngoài giờ lễ, chúng ta thấy rõ thêm tương quan giữa chức tư tế thừa tác và chức tư tế cộng đồng được thể hiện trong Thánh Lễ. Hai chức tư tế ấy thấm nhập vào nhau. Tất cả chúng ta, linh mục cũng như tín hữu đều là những người lãnh nhận. Đối diện với Thánh Thể, chỉ có một thái độ đúng, đó là thờ phượng.

Đón Chúa, gặp gỡ Chúa, thờ phượng Chúa là những tâm tình gắn chặt với nhau. Chúng ta tin Chúa, yêu Chúa, ngưỡng mộ Chúa, tôn thờ Chúa. Yêu mến và tôn thờ đi đôi với nhau. Ý thức và tâm tình tôn giáo sâu xa không thể thiếu một trong hai yếu tố. Lời Chúa trong sách Khải Huyền nhắc lại ý nghĩa sâu xa của lòng yêu mến Thánh Thể: “Này đây Ta đứng trước cửa và gõ. Ai nghe tiếng Ta và mở cửa, thì Ta sẽ vào nhà người ấy, sẽ dùng bữa với người ấy, và người ấy sẽ dùng bữa với Ta” (Kh 3:20-20).

Đức Thánh Cha Gioan Phaolô II dạy chúng ta không được bỏ việc tôn thờ Chúa Kitô Thánh Thể. Không nên quá tiết kiệm thời gian gặp gỡ thờ phượng Chúa. Sự mật thiết với Chúa Kitô Thánh Thể là cốt lõi của việc sùng kính bí tích Thánh Thể. Thờ phượng Chúa trong bí tích Thánh Thể là trường đào tạo lương tâm kitô hữu. Chiêm ngắm gương mặt của Chúa Kitô chịu khổ nạn, không còn hình tượng người nữa, ta sẽ nhận ra sự tàn bạo của loài người trong đó có chúng ta. Ta được mời gọi thanh tẩy lương tâm trước khi cải cách xã hội. Chiêm ngắm Chúa Phục Sinh, lòng ta tràn ngập hân hoan, ta sẽ được đầy sinh lực mới.

Thờ phượng Chúa Kitô Thánh Thể còn là một trường học yêu mến tha nhân. Trong bí tích Thánh Thể, chúng ta không dừng lại việc thờ phượng Thiên Chúa: đời sống phượng tự bí tích không chỉ là tôn thờ Thiên Chúa siêu việt, mà là tôn thờ một Thiên Chúa gần gũi, một Thiên Chúa hạ mình, một Thiên Chúa giàu lòng thương xót, một Thiên Chúa cứu độ biến đổi thế giới trong trái tim của con người. Trong sự thờ phượng đó chúng ta cảm nghiệm được hy tế của Chúa Giêsu Kitô, gặp được tình Yêu của Chúa. Chúng ta sẽ thông phần tình yêu của Chúa, chúng ta cùng yêu với Chúa. Không những chúng ta biết yêu thương, mà chúng ta thực sự bắt đầu yêu thương.

Điều tối quan trọng khác mà chúng ta khám phá nhờ việc thờ phượng là sự thiêng thánh của bí tích Thánh Thể. Khuynh hướng tục hoá mọi sự trong thế giới hôm nay làm cho chúng ta dễ dàng đánh mất cảm thức về sự thiêng thánh. Chúng ta chiêm ngắm và thờ phượng Chúa Kitô trước hết trong thánh lễ. Việc chiêm ngắm và thờ phượng Chúa ngoài Thánh lễ có mục đích kéo dài sự gặp gỡ, sự kết hợp giữa chúng ta với Chúa, giúp chúng ta đào sâu đời sống chiêm niệm cá nhân và cộng đồng. Chúng ta có thể dùng những bản kinh đậm chất kinh thánh, những kinh nghiệm thiêng liêng của các nhà thần bí và dùng cả tràng hạt mân côi, để cùng với Đức Mẹ chiêm ngắm Chúa. (x.số 18)

Thánh lễ vẫn là trọng tâm và điểm quy chiếu cho sự thờ phượng của chúng ta, vì trọng tâm của bí tích Thánh thể là mầu nhiệm Vượt Qua mà chúng ta cử hành trong Thánh lễ, và được mời gọi thông phần, cùng chết với Chúa để cùng sống lại với Người. 

Hiệp thông và Liên đới:

Hãy ở lại trong Thầy, như Thầy ở lại trong anh em (Ga 15, 4).

Đức thánh cha trích Gioan 15,4 là lời mời gọi của Chúa, đối chiếu với Luca 24,29 là lời nài xin của hai môn đệ Emmau, để làm nổi bật tình thương của Chúa. Nơi bí tích Thánh Thể, hồng ân của Chúa còn lớn hơn ước muốn của chúng ta gấp bội. Chúa không những ở lại với chúng ta, mà còn ở trong chúng ta. Rước Chúa là hiệp thông mật thiết với Chúa, là ở lại trong Chúa như Chúa ở lại trong chúng ta. Hạnh phúc của Nước Trời đã bắt đầu từ đây. (xem Mane nobiscum số 19)

Đức Cha Phaolô BÙI VĂN ĐỌC (kỳ IV)

 

13 Tháng Giêng - Thánh Hilary ở Poitiers (315 - 368)

Vị trung kiên bảo vệ thiên tính của Ðức Kitô này là một người hiền lành và can đảm, tận tụy sáng tác một số văn bản tuyệt vời về Ba Ngôi Thiên Chúa, và cũng giống như Thầy Kitô, ngài được coi là "người xáo trộn sự bình an." Trong giai đoạn cực kỳ khủng hoảng của Giáo Hội, sự thánh thiện của ngài nổi bật cả trong lãnh vực uyên bác và tranh luận.

Sinh trưởng trong một gia đình ngoại giáo, ngài trở lại Kitô Giáo khi tìm thấy Thiên Chúa qua Kinh Thánh. Sau khi lập gia đình và có được một người con gái là Apra, ngài được chọn làm Giám Mục của Poitiers nước Pháp trái với ý muốn của ngài. Không bao lâu ngài phải chiến đấu với một tai họa của thế kỷ thứ tư, là bè rối Arian, những người khước từ thiên tính của Ðức Kitô.

   Tà thuyết này lan tràn nhanh chóng. Khi hoàng đế Constantius ra lệnh cho mọi giám mục Tây Phương phải ký vào bản kết án Ðức Athanasius, vị bảo vệ đức tin của Giáo Hội Ðông Phương, Ðức Hilary từ chối và bị trục xuất khỏi nước Pháp đến vùng Phrygia hẻo lánh (khi bị lưu đầy là khi ngài được mệnh danh là "Athanasius của Tây Phương"). Vị bảo vệ chính giáo một cách kiên cường này lại là người rất nhân từ khi hòa giải các giám mục của nước Pháp, là những người vì sợ mang tiếng là ngu dốt nên đã chấp nhận bản kinh tin kính của Arian. Và trong khi ngài viết bản cáo trạng sắc bén lên án hoàng đế về tội bao che tà thuyết, thì ngài lại ôn tồn giải thích rằng, đôi khi sự khác biêät giữa các học thuyết chính giáo và lạc giáo chỉ là nghĩa chữ hơn là tư tưởng. Do đó, ngài khuyên các giám mục Tây Phương đừng vội kết án. Chính vì vậy, ngài lại có thêm những kẻ thù mới.

   Trong thời gian lưu đầy và viết lách, ngài được mời tham dự một công đồng do hoàng đế triệu tập để chống với Công Ðồng Nicea. Như chúng ta có thể tiên đoán, Ðức Hilary đã đứng lên bảo vệ Giáo Hội, và khi ngài thách thức tranh luận một cách công khai với vị giám mục đã đầy ải ngài, những người theo Arian, vì sợ buổi tranh luận ấy và những hậu quả của nó, đã xin hoàng đế tống cổ "người xáo trộn sự bình an" này về nhà. Nhưng thay vì về thẳng Poitiers, ngài đã sang Hy Lạp và Ý, rao giảng chống lại tà thuyết Arian.

   Có lẽ một số người hiện nay nghĩ rằng tất cả những khó khăn ấy chỉ trên phương diện ngôn từ. Nhưng Thánh Hilary không chỉ tham dự cuộc chiến ngôn ngữ, mà còn chiến đấu cho sự sống vĩnh cửu của các linh hồn đã nghe theo tà thuyết Arian và không còn tin vào Con Thiên Chúa, là nguồn hy vọng cứu độ của họ.

Cái chết của hoàng đế Constantius năm 361 cũng chấm dứt việc bách hại Kitô Giáo chính thống. Ðức Hilary từ trần năm 367 hoặc 368, và được tuyên xưng là tiến sĩ Hội Thánh vào năm 1851.
Lời Bàn: Ðức Kitô đã nói Ngài đến thế gian không để đem lại sự bình an nhưng đem lại gươm giáo (x. Mátthêu 10:34). Nếu chúng ta nghĩ rằng sự thánh thiện chói lòa không đem lại nhiều khó khăn thì điều ấy không được thấy trong Phúc Âm. Ngay cả giây phút cuối cùng, Ðức Kitô cũng không thoát, mặc dù từ đó trở đi Ngài đã sống hạnh phúc -- sau một cuộc đời đầy tranh đấu, khó khăn, đau khổ và thất vọng. Ðức Hilary, như mọi vị thánh khác, cũng không khác gì hơn.




(HT 31-12-2023)

TÔNG THƯ "MANE NOBISCUM"

CỦA ĐỨC CỐ GIÁO HOÀNG GIOAN PHAOLÔ II (tiếp theo)

Bí tích Thánh Thể là một bàn tiệc, vì Chúa Giêsu đã lập bí tích Thánh Thể trong bối cảnh một bữa ăn.  Người còn mời gọi các môn đệ hãy ăn và uống. Nhưng bàn tiệc ấy là bàn tiệc hy tế, bàn tiệc Giao Uớc, nơi chúng ta được ăn Mình và uống Máu Thánh Người. Mục tiêu của hành vi ăn và uống là để thông phần Sự Sống của Chúa; và đó là ơn cứu độ. Mình Thánh Chúa là Bánh Hằng Sống; Máu Thánh Chúa là Chén Cứu Độ.

Nơi bí tích Thánh Thể, Chúa Kitô làm cho hiến tế duy nhất chỉ một lần cho mãi mãi trên đồi Gôngôtha trở thành hiện thực cho chúng ta. Tuy hiện diện trong Thánh Thể như là Đấng Phục Sinh, Người vẫn mang những dấu tích của cuộc khổ nạn. (x. Mane nobiscum, số 15). Do vậy mỗi thánh lễ cũng là một tưởng niệm cuộc khổ nạn và sự Phục Sinh của Chúa; đồng thời quy hướng chúng ta tới Ngày Quang Lâm của Chúa.

Không những Chúa đã chết vì tội lỗi chúng ta, Chúa Sống lại cũng vì chúng ta và cho chúng ta. Chúa Phục Sinh ở cùng chúng ta mọi ngày cho đến tận thế (Mt 28, 20). Chúa chết là Chúa ra đi, Chúa Phục Sinh là Chúa đến, như Chúa đã nói với các môn đệ: “Thầy ra đi và đến cùng anh em” ( Ga 14, 28 ). Tử nạn và Phục Sinh là hai mặt gắn chặt với nhau của cùng một mầu nhiệm mà chúng ta cử hành trong Thánh Lễ, như lời tung hô sau phần Truyền Phép: “Lạy Chúa, chúng con loan truyền việc Chúa chịu chết và tuyên xưng việc Chúa sống lại cho tới khi Chúa lại đến.”      

Hai bàn tiệc: Lời Chúa và Thánh Thể

So với thông điệp Giáo hội sống nhờ Thánh Thể không dành chỗ đặc biệt cho Lời Chúa, tông thư “Xin Thầy ở lại với chúng con” bù lắp vào chỗ trống này cách rất dồi dào. Việc lựa chọn câu truyện hai môn đệ Emmau như sợi chỉ xuyên suốt, hướng tông thư về chiều hướng đó. Trong lần gặp gỡ giữa hai môn đệ Emmau với Chúa Phục Sinh, có hai lúc đặc biệt ý nghĩa. Thời điểm thứ nhất là lúc Chúa Giêsu đồng hành với hai môn đệ, nói với họ về Kinh thánh, giải thích cho họ một số nội dung chứa đựng trong đó, cho họ thấy rằng Kinh thánh quy chiếu về Ngài. Thời điểm thứ hai là lúc Chúa ngồi vào bàn với họ, cầm lấy Bánh, đọc lời chúc tụng, bẻ ra, trao cho họ, bấy giờ mắt họ mở ra và họ mới nhận biết Chúa.

Bí tích Thánh Thể là mầu nhiệm Ánh Sáng, vì Phụng Vụ Lời Chúa luôn đi trước Phụng Vụ Thánh Thể, Lời Chúa gắn liền với Thánh Thể giống như hai bàn tiệc Lời Chúa và Mình Máu Thánh Chúa. Lời Chúa là Lời Sự Sống, nên cũng là lương thực, là bánh để ăn. Lời Chúa là đèn rọi bước chân ta, là ánh sáng chỉ đường cho ta. Lời Chúa hướng chúng ta đến chính Chúa là Ngôi Lời Nhập Thể hiện diện cách đặc biệt, hiện diện bản thể trong Mình và Máu Thánh Chúa. Lời Chúa giúp ta nhận ra Chúa như hai môn đệ Emmau. Lời Chúa làm cho ta hiểu biết Chúa, đón nhận Tình Yêu tự hiến của Chúa trong bí tích Thánh Thể.

Trước hết Chúa Giêsu đã tự hiến qua Lời của Người, Lời của Người đã là lương thực, nhưng sự tự hiến chỉ hoàn tất trong mầu nhiệm Thánh Thể. Trong mầu nhiệm Thánh Thể Chúa tự hiến trọn vẹn cho chúng ta, hiến dâng mạng sống cho Thiên Chúa, tặng ban sự sống bản thân cho chúng ta. Cái chết của Chúa là cái chết cứu độ, Chúa chết cho chúng ta được sống: Này là Mình Thầy hiến tế vì anh em.

Đức Thánh Cha Gioan Phaolô II nhắc lại ý hướng của Công Đồng Vatican II, khi canh tân Phụng Vụ, muốn bàn tiệc Lời Chúa cung cấp kho tàng Lời Chúa trọn vẹn hơn cho các tin hữu (PV 9). Và chính vì thế đã cho phép đọc các bài kinh thánh bằng tiếng bản xứ. Chúa nói với chúng ta qua lời kinh thánh được đọc trong thánh lễ. Chúa đến với chúng ta qua Lời Chúa trước khi đến cách  trọn vẹn và đầy đủ trong bí tích Thánh Thể.

Bàn tiệc Lời Chúa là tất cả phần Phụng Vụ Lời Chúa, bao hàm cả bài giảng lễ của linh mục. Lời lẽ của linh mục cũng là lương thực nuôi dưỡng đức tin của giáo dân. Linh mục vừa cung cấp nội dung đức tin, vừa chia sẻ sự sống đức tin. Nội dung đức tin được cung cấp dựa vào Lời Chúa. Lời Chúa là Lời Sự Sống và là Lời Mặc Khải chờ đợi sự đáp trả. Đức tin không chỉ là một nội dung tư tưởng, mà còn là sự sống, là ân sủng do Thiên Chúa ban qua trung gian của linh mục. Linh mục truyền đạt một đức tin sống động, chứ không phải một mớ ý tưởng.

Thánh Gioan, trong diễn từ Bánh Trường Sinh, cho thấy rõ sự liên tục và gắn bó chặt chẽ giữa Lời Chúa và Mình Máu thánh Chúa, giữa tin vào Người và ăn thịt uống máu Người. Đức Giê-su bảo những người do thái: “Chính tôi là bánh trường sinh. Ai đến với tôi, không hề phải đói; ai tin vào tôi, chẳng khát bao giờ! (Ga 6, 35) …vì thịt tôi thật là của ăn, và máu tôi thật là của uống.(Ga 6, 55). Nhiều người xầm xì khó chịu, nhưng Thánh Phêrô đã khẳng định lòng tin của ông và các tông đồ, cũng là niềm tin của Giáo Hội: “Thưa Thầy, bỏ Thầy thì chúng con biết đến với ai? Thầy mới có những lời đem lại sự sống đời đời.” (Ga 6, 68).

Trong bài tường thuật của Luca cũng thế, những lời giải thích Sách Thánh của Chúa Giêsu đều hướng tới cái chết và sự sống lại của Người. “Bấy giờ Người mở trí cho các ông hiểu Kinh Thánh và Người nói: “Có lời Kinh Thánh chép rằng: Đấng Ki-tô phải chịu khổ hình, rồi ngày thứ ba, từ cõi chết sống lại” (Lc 24, 45 - 46). Những lời của Chúa Giêsu Phục Sinh đi vào trái tim của hai môn đệ Emmau và làm cho lòng họ bừng cháy lên (x. Lc 24, 32), khơi dậy lòng khao khát được gần gũi Chúa, ở lại với Chúa, và họ đã nài nỉ Chúa: Xin Thầy ở lại với chúng con. Trên con đường đi Emmau, hai môn đệ đã được Lời của Chúa chuẩn bị sẵn sàng, nên vừa đến lúc đồng bàn họ tức khắc nhận ra Chúa qua cử chỉ rất đơn giản là Người bẻ bánh. Khi tâm trí đã được soi sáng và trái tim đã được sưởi ấm, thì các dấu chỉ bắt đầu lên tiếng. Qua các dấu chỉ mầu nhiệm Thánh Thể như mở ra trước mắt các tín hữu. (x. Mane nobiscum, số 13 và 14). 


Đức Cha Phaolô BÙI VĂN ĐỌC (kỳ III)


1 Tháng Giêng - Ðức Maria, Mẹ Thiên Chúa

Vai trò người mẹ siêu phàm của Ðức Maria đã triển khai tính cách đặc biệt của biến cố Giáng Sinh. Ðức Maria đóng một vai trò quan trọng trong sự Nhập Thể của Ngôi Hai Thiên Chúa. Ngài chấp nhận lời mời của Thiên Chúa mà đã được sứ thần đưa tin (Luca 1:26-38). Bà Êlizabét đã phải xưng tụng: "Em có phúc hơn mọi người nữ, và phúc thay người con trong lòng em. Bởi đâu tôi được người mẹ của Chúa tôi đến thăm?" (Luca 1:42- 43). Vai trò làm mẹ Thiên Chúa của Ðức Maria đã đặt ngài vào một vị trí độc đáo trong chương trình cứu chuộc của Thiên Chúa.

Tuy không nhắc đến tên Ðức Maria, Thánh Phaolô khẳng định rằng "Thiên Chúa đã sai Con Ngài, sinh bởi một phụ nữ, sinh ra dưới chế độ luật" (Galat 4:4). Thánh Phaolô còn nói thêm "Thiên Chúa đã sai thần khí Con Ngài đến trong tâm hồn chúng ta, để kêu lên 'Abba, Lạy Cha!'" giúp chúng ta nhận thức rằng Ðức Maria là mẹ của tất cả các người em Ðức Giêsu.

Một số thần học gia còn nhấn mạnh rằng vai trò làm mẹ Ðức Giêsu của Ðức Maria là một yếu tố quan trọng trong chương trình tạo dựng của Thiên Chúa. Ý tưởng "đầu tiên" của Thiên Chúa trong sự tạo dựng là Ðức Giêsu. Ðức Giêsu, Ngôi Lời nhập thể, là Ðấng có thể dâng lên Thiên Chúa tình yêu và sự thờ phượng tuyệt hảo nhất thay cho mọi tạo vật. Một khi Ðức Giêsu có trong tâm trí của Thiên Chúa "đầu tiên," thì "thứ đến" phải là Ðức Maria vì ngài đã được chọn từ thuở đời đời để làm mẹ Ðức Giêsu.

Danh hiệu "Mẹ Thiên Chúa" đã có từ thế kỷ thứ ba hay thứ tư. Từ tiếng Hy Lạp Theotokos (người mang Thiên Chúa), danh xưng ấy đã trở thành nền tảng cho giáo huấn của Giáo Hội về sự Nhập Thể. Công Ðồng Êphêsô năm 431 nhấn mạnh rằng các thánh Giáo Phụ đã có lý khi gọi đức trinh nữ rất thánh là Theotokos. Vào lúc cuối của công đồng đặc biệt này, đám đông dân chúng diễn hành trên đường phố, miệng hô lớn: "Ngợi khen đấng Theotokos!" Truyền thống ấy vẫn còn tiếp diễn cho đến ngày nay. Trong chương về vai trò của Ðức Maria trong Giáo Hội, hiến chế Tín Lý về Giáo Hội của Công Ðồng Vatican II đã gọi Ðức Maria là "Mẹ Thiên Chúa" đến 12 lần.

4/1 – THÁNH ELIZABETH ANN SETON (1774-1821)

Bà là một trong các nhân vật chính của Giáo hội Công giáo Hoa Kỳ. Bà thành lập Dòng Nữ tử Bác ái (Sisters of Charity), dòng nữ đầu tiên của Hoa Kỳ. Bà còn mở một trường Công giáo Hoa Kỳ đầu tiên và thành lập Viện Mồ côi Công giáo Hoa Kỳ đầu tiên. Đó là những việc bà làm trong cuộc đời chỉ 46 năm.

Bà sinh ngày 28-8-1774, chỉ 2 ngày trước ngày tuyên bố bản Tuyên ngôn Độc lập. Bà được giáo dục bởi người mẹ ruột và mẹ kế đều theo Giáo hội Tân giáo (Episcopalian), bà học được giá trĩ của sự cầu nguyện, Kinh Thánh và xét mình mỗi đêm. Người cha là bác sĩ Richard Bayley, ông không quan tâm việc đến nhà thờ nhưng ông sống rất nhân bản, ông dạy con gái mình sống yêu thương và phục vụ người khác.

Người mẹ qua đời sớm vào năm 1777, cái chết của em gái bà năm 1778 đã cho bà cảm giác về sự vĩnh hằng và sự tạm bợ của đời sống trần gian. Lúc 19 tuổi, Elizabeth là hoa khôi của TP New York và kết hôn với một thương gia vừa giàu có vừa điển trai là William Magee Seton. Rồi người chồng qua đời vì bệnh lao phổi. Elizabeth trở thành góa phụ khi mới 30 tuổi, nghèo kiết xác mà phải một mình nuôi 5 đứa con.

Có 3 điểm cơ bản khiến bà theo Công giáo: Tin vào sự hiện hữu thật của Thiên Chúa, sùng kính Mẹ Maria và tin rằng người Công giáo được gặp lại Đức Kitô. Nhiều người phản đối khi bà theo Công giáo hồi tháng 3-1805.

Để kiếm tiền nuôi con, bà mở trường học ở Baltimore. Từ đầu, nhóm của bà theo luật dòng tu, chính thức khai giảng năm 1809. Cả ngàn lá thư của bà cho biết việc phát triển đời sống tâm linh từ những điều tốt hàng ngày tới sự thánh thiện anh dũng. Bà chịu bệnh tật, bị hiểu lầm, mất người thân (chồng và 2 con gái), và khổ sở vì cậu con trai ngỗ nghịch. Bà qua đời ngày 4-1-1821, được an táng tại Emmitsburg, Maryland. Bà là người Mỹ đầu tiên được tuyên chân phước (năm 1963) và được tuyên thánh (năm 1975).



(HT 24-12-2023)

TÔNG THƯ "MANE NOBISCUM"

CỦA ĐỨC CỐ GIÁO HOÀNG GIOAN PHAOLÔ II (tiếp theo)

Nếu tất cả các chiều kích khác của bí tích Thánh Thể đều đan kết với nhau trong mầu nhiệm của sự hiện diện, thì phải hiểu, chiêm ngắm sự hiện diện của Chúa gắn liền với các chiều kích khác nhau ấy. Sự hiện diện của Chúa là sự hiện diện hy tế và hiệp thông. Chúa tự hiến cho Chúa Cha làm của lễ và tự hiến cho chúng ta làm của ăn, để  ta được hiệp thông với Chúa và Chúa Cha. Đức thánh cha không quên yếu tố nào trong truyền thống của Giáo hội về bí tích thánh thể, nhưng tất cả những yếu tố ấy đều xoay quanh việc tưởng niệm bàn tiệc hy tế.

Lập lại tư tưởng của Phaolô VI trong thông điệp Mầu nhiệm đức tin, Đức thánh cha Gioan Phaolô II viết: sự hiện diện thực của Chúa Kitô trong bí tích Thánh Thể không loại trừ các hình thức hiện diện thực khác của Chúa, nhưng khác biệt ở chỗ là hiện diện bản thể và toàn diện (Mane nobiscum, số 16). Đức tin đòi hỏi chúng ta, khi đứng trước Thánh thể, ý thức rằng mình đang đứng trước mặt Chúa. Và chính sự hiện diện này của Chúa làm cho các khía cạnh khác như bàn tiệc hay bữa ăn, sự tưởng niệm mầu nhiệm vượt qua, chiều kích cánh chung, không chỉ là biểu tượng thuần túy.

Chúa đến, Chúa hiện diện trong dấu chỉ bí tích, nên chúng ta không thấy Người, mà thấy dấu chỉ. Chúng ta không thấy, nhưng chúng ta tin Chúa hiện diện thực, Chúa hiện diện bản thể. Chúng ta thấy Bánh, nhưng chúng ta tin là Mình Thánh Chúa, chúng ta thấy Rượu, nhưng chúng ta tin là Máu Thánh Chúa. Chúng ta ăn Bánh mà tin là Rước Chúa. Quả thật, đây là mầu nhiệm đức tin!

Chúng ta tin chúng ta đang đón Chúa, đang đối diện với Chúa, dù mắt phàm không thấy Chúa. Chúa ở trước mặt ta;  ta chiêm ngắm Chúa và sấp mình thờ lạy Chúa. Ánh Sáng của Chúa chiếu toả cho con mắt đức tin của chúng ta, do đó càng tin càng có nhiều ánh sáng. Đức tin mạnh làm cho chúng ta được chan hoà ánh sáng, ngụp lặn trong ánh sáng của Chúa, khám phá ra Chúa, nhận ra Tình Thương của Chúa, của Chúa Cha và của Chúa Thánh Thần. Chúng ta nhận ra ánh sáng của Thiên Chúa Ba Ngôi  đang tiếp đón chúng ta, khi chúng ta hiệp thông, nên một với Chúa Kitô, Con Thiên Chúa. Ánh sáng cho chúng ta nhận ra mình đang trở thành con cái của Thiên Chúa cùng với Chúa Kitô và trong Chúa Kitô. Ánh sáng cho chúng ta thấy Thiên Chúa đang nhận chúng ta làm con, làm nghĩa tử của Người. Ánh sáng Tình Yêu làm cho chúng ta có thể thốt lên Abba, Cha ơi  với Thiên Chúa.

Sự hiện diện của Chúa Giêsu nơi nhà tạm trở nên như một thứ nam châm thu hút càng ngày càng đông đảo hơn những người ngưỡng mộ Chúa, sẵn sàng kiên nhẫn chờ đợi nghe tiếng Người, và thậm chí nghe cả nhịp đập của trái tim Người (x. Mane nobiscum, số 17). Chúng ta phải vun trồng một ý thức sống động về sự hiện diện thực của Chúa Giêsu trong Thánh Lễ và nơi nhà tạm sau Thánh Lễ. Đức Thánh Cha Gioan Phaolô II thúc giục giáo dân, và một cách đặc biệt hơn các tu sĩ: Hãy ở lại lâu giờ phủ phục trước Chúa Giêsu đang hiện diện trong Thánh Thể, đem lòng tin và lòng mến đền bù những khoảnh khắc lơ là, những bổn phận thiếu sót và cả những sỉ nhục Chúa Giêsu phải chịu tại nhiều nơi trên thế giới. Hãy đào sâu đời sống chiêm niệm của cá nhân, cũng như cộng đoàn nhờ việc thờ phượng (x . Mane nobiscum, số 17).

Bí tích Thánh Thể là một bàn tiệc, vì Chúa Giêsu đã lập bí tích Thánh Thể trong bối cảnh một bữa ăn.  Người còn mời gọi các môn đệ hãy ăn và uống. Nhưng bàn tiệc ấy là bàn tiệc hy tế, bàn tiệc Giao Uớc, nơi chúng ta được ăn Mình và uống Máu Thánh Người. Mục tiêu của hành vi ăn và uống là để thông phần Sự Sống của Chúa; và đó là ơn cứu độ. Mình Thánh Chúa là Bánh Hằng Sống; Máu Thánh Chúa là Chén Cứu Độ.

Nơi bí tích Thánh Thể, Chúa Kitô làm cho hiến tế duy nhất chỉ một lần cho mãi mãi trên đồi Gôngôtha trở thành hiện thực cho chúng ta. Tuy hiện diện trong Thánh Thể như là Đấng Phục Sinh, Người vẫn mang những dấu tích của cuộc khổ nạn. (x. Mane nobiscum, số 15). Do vậy mỗi thánh lễ cũng là một tưởng niệm cuộc khổ nạn và sự Phục Sinh của Chúa; đồng thời quy hướng chúng ta tới Ngày Quang Lâm của Chúa.

Không những Chúa đã chết vì tội lỗi chúng ta, Chúa Sống lại cũng vì chúng ta và cho chúng ta. Chúa Phục Sinh ở cùng chúng ta mọi ngày cho đến tận thế (Mt 28, 20). Chúa chết là Chúa ra đi, Chúa Phục Sinh là Chúa đến, như Chúa đã nói với các môn đệ: “Thầy ra đi và đến cùng anh em” ( Ga 14, 28 ). Tử nạn và Phục Sinh là hai mặt gắn chặt với nhau của cùng một mầu nhiệm mà chúng ta cử hành trong Thánh Lễ, như lời tung hô sau phần Truyền Phép: “Lạy Chúa, chúng con loan truyền việc Chúa chịu chết và tuyên xưng việc Chúa sống lại cho tới khi Chúa lại đến.” 

Đức Cha Phaolô BÙI VĂN ĐỌC (kỳ II)

 


25 Tháng Mười Hai - Ngày Sinh Nhật Ðức Giêsu

Ðã đến lúc Con Thiên Chúa làm người vì yêu thương chúng ta. Mẹ Người là Ðức Maria và Thánh Giuse phải rời bỏ căn nhà yêu dấu ở Nagiarét để đến Bêlem. Lý do là vì hoàng đế Rôma muốn kiểm tra dân số. Vì Ðức Maria và Thánh Giuse thuộc về dòng họ vua Ðavít nên các ngài phải về Bêlem. Hoàng đế ra lệnh, nhưng lệnh ấy lại hoàn thành hoạch định của Thiên Chúa. Kinh Thánh nói rằng Ðấng Cứu Thế sẽ sinh ra ở Bêlem.

Ðó là một hành trình khó khăn cho Ðức Maria vì núi đồi hiểm trở. Nhưng ngài cảm thấy bình an vì biết rằng đang thi hành ý Chúa. Ngài vui mừng khi nghĩ đến người con sắp chào đời. Khi các ngài đến Bêlem, họ không tìm ra được chỗ trọ. Sau cùng, họ tìm thấy nơi trú ngụ trong một cái hang. Ở đó, trong một cái chuồng thô sơ và Con Thiên Chúa đã giáng sinh. Ðức Maria bọc Hài Nhi trong tấm vải và đặt nằm trong máng cỏ. Chúa chúng ta đã chọn sinh ra trong cảnh nghèo hèn để chúng ta đừng ao ước sự giầu sang và tiện nghi. Chính đêm Hài Nhi Giêsu giáng trần, Thiên Chúa đã sai các thiên thần loan báo tin vui. Các thiên sứ không được sai đến với vua chúa. Họ cũng không được sai đến với các học giả hay các thầy thượng tế. Họ được sai đến với các mục đồng nghèo hèn, đang chăm sóc súc vật ở mé đồi gần Bêlem. Sau khi được các thiên thần báo tin, các mục đồng đã vội vã đến thờ lạy Ðấng Cứu Tinh của nhân loại. Sau đó họ ra về trong niềm tạ ơn và chúc tụng Thiên Chúa.

Các ngôn sứ và thượng phụ của Cựu Ước được an ủi khi biết rằng sẽ có ngày Ðấng Cứu Thế đến với nhân loại. Giờ đây, Người đã sinh ra giữa chúng ta. Ðức Kitô đã đến vì tất cả mọi người chúng ta. Kinh Thánh viết: "Thiên Chúa đã quá yêu thương thế gian đến nỗi Người đã ban Con một của Người."

Giáng Sinh là thời điểm giúp chúng ta ý thức hơn bao giờ hết là Thiên Chúa yêu thương chúng ta.

26 Tháng Mười Hai - Thánh Stêphanô (c. 36?)

Những gì chúng ta biết về Thánh Stêphanô thì được viết trong sách Công Vụ Tông Ðồ 6 và 7. Ðiều đó đã đủ để biết về con người của ngài.

"Thời đó, khi số môn đệ thêm đông, thì các tín hữu Do-thái theo văn hoá Hy-lạp kêu trách những tín hữu Do-thái bản xứ, vì trong việc phân phát lương thực hằng ngày, các bà goá trong nhóm họ bị bỏ quên. Bởi thế, Nhóm Mười Hai triệu tập toàn thể các môn đệ và nói: 'Chúng tôi mà bỏ việc rao giảng Lời Thiên Chúa để lo việc ăn uống, là điều không phải. Vậy, anh em hãy tìm trong cộng đoàn bảy người được tiếng tốt, đầy thần khí và khôn ngoan, rồi chúng tôi sẽ cắt đặt họ làm công việc đó. Còn chúng tôi, chúng tôi sẽ chuyên lo cầu nguyện và phục vụ Lời Thiên Chúa.' Ðề nghị trên được mọi người tán thành. Họ chọn ông Stêphanô, một người đầy lòng tin và đầy Thánh Thần,..." (CVTÐ 6:1-5)

Sách Công Vụ kể tiếp Stêphanô là một người đầy ơn sủng và sức mạnh, đã làm nhiều việc phi thường trong dân chúng. Một vài người Do Thái thời ấy, là thành viên của hội đường nhóm nô lệ được giải phóng, tranh luận với Stêphanô nhưng không thể địch nổi sự khôn ngoan và thần khí của ngài. Họ xúi giục người khác lên án ngài là lộng ngôn, xúc phạm đến Thiên Chúa. Ngài bị bắt và bị đưa ra trước Thượng Hội Ðồng.

Trong phần trình bày, ngài nhắc lại sự dẫn dắt của Thiên Chúa trong lịch sử dân Do Thái, cũng như việc thờ tà thần và bất tuân phục Thiên Chúa của dân này. Sau đó ngài cho rằng những người bách hại ngài cũng giống như vậy. "Cha ông các ông thế nào, thì các ông cũng vậy" (CVTÐ 7:51b).

Lời ngài nói đã làm họ tức giận. "Nhưng [Stêphanô], tràn đầy Thánh Thần, đăm đăm nhìn lên trời và thấy vinh hiển của Thiên Chúa và Ðức Giêsu Kitô đứng bên hữu Thiên Chúa, và thánh nhân nói, 'Kìa, tôi nhìn thấy thiên đàng mở ra và Con Người đang đứng bên hữu Thiên Chúa.'... Họ đưa ngài ra ngoài thành và bắt đầu ném đá ngài... Trong khi họ ném đá ngài, thánh nhân kêu lớn, 'Lạy Chúa Giêsu, xin nhận lấy hồn con... Lạy Chúa, xin đừng nhớ tội của họ'" (CVTÐ 7:55-56, 58a, 59, 60b).

(HT 17-12-2023)

TÔNG THƯ "MANE NOBISCUM"

CỦA ĐỨC CỐ GIÁO HOÀNG GIOAN PHAOLÔ II

Tông thư Mane nobiscum của Đức Thánh Cha Gioan Phaolô II nhằm mục đích cụ thể là giúp mọi thành phần Dân Chúa trong Giáo hội toàn cầu sống năm Thánh Thể, do đó là một hướng dẫn rất chắc chắn, giúp chúng ta hiểu thông điệp Giáo hội sống nhờ Thánh Thể, học hỏi về mầu nhiệm Thánh Thể và đưa mầu nhiệm ấy vào cuộc sống. Tông thư cũng đã trích dẫn Công Đồng Vatican II khá nhiều, và muốn cho chúng ta thấm nhuần giáo lý của Công Đồng về Thánh Thể.

Tông thư rất súc tích và đầy chất liệu thiêng liêng. Ngay từ đầu, trong phần dẫn nhập, hình ảnh hai môn đệ Emmau nổi bật lên, rất gần gũi, làm cho chúng ta thấy như chính Chúa Giêsu Phục Sinh đang đến với chúng ta và đồng hành với chúng ta, bẻ bánh với chúng ta và cho chúng ta, mỗi khi chúng ta cùng nhau cử hành Thánh lễ trong lòng Giáo hội đang lữ thứ. Câu chuyện các môn đệ Emmau như sợi chỉ đỏ xuyên suốt từ đầu chí cuối tông thư, mặc dù trong các phần sau, Đức thánh cha có trích dẫn những câu kinh thánh khác làm tựa đề cho các phần đoạn khác nhau. Tôi có cảm cảm tưởng Đức Thánh Cha đã không ngừng chiêm ngưỡng bức hoạ tuyệt vời của hoạ sĩ Rembrandt vẽ Chúa Giêsu đang đồng bàn và bẻ bánh với hai môn đệ Emmau.

Sau phần nhập đề, tông thư xoay quanh bốn trục chính được xem như bốn phần. 1/. Phần một hướng chúng ta về Công Đồng Vatican II, vẫn là kim chỉ nam cho Giáo hội toàn cầu đang bước vào thiên niên kỷ thứ ba; Đức thánh cha cũng nhắc lại biến cố Năm Thánh 2000, mở đầu thiên niên kỷ mới, là một biến cố mang tràn đầy ân sủng cho Giáo hội và toàn thể nhân loại (số 6 đến số 10). 2/. Phần hai đề cập đến bí tích Thánh Thể, Mầu nhiệm Ánh Sáng là phần độc đáo của Đức thánh cha, người đã sáng kiến ra năm mầu nhiệm ánh sáng trong tông thư Rosarium Virginis Mariae. Trong số các mầu nhiệm ánh sáng, Thánh Thể là Đỉnh Cao, là Đèn Sáng được đặt trên cao để chiếu soi cho cả ngôi nhà của Thiên Chúa ở trần gian là Giáo hội, cho lịch sử loài người, cho cả gia đình nhân loại (số 11-18). 3/. Phần ba đề cập đến Thánh Thể và mầu nhiệm Hiệp thông: Hiệp thông Ba Ngôi, Hiệp thông Giáo hội. Nhờ Thánh Thể chúng ta nên một với Chúa và nên một với nhau trong Chúa (số 19 – 23). 4/. Phần bốn đề cập đến Thánh Thể là nguồn gốc và là dự phóng cho sứ vụ. Mỗi khi cử hành Thánh lễ, Giáo hội đều nhận lãnh sứ vụ từ Chúa Phục Sinh, và Chúa ban cho Giáo hội dự phóng yêu thương và phục vụ như Chúa, dự phóng đó chính là cách hiện hữu của Chúa Kitô phải dần dần trở thành cách hiện hữu của Giáo hội (số 24-28).

Tông thư Mane nobiscum (xin Thầy ở lại với chúng con) rất sống động và đầy chất kinh thánh, được trình bày dựa vào một số câu kinh thánh quen thuộc. Chúng ta dừng lại một số nét cơ bản của nội dung tông thư, giúp chúng ta hiểu mầu nhiệm Thánh Thể cách sâu xa hơn, thấy mầu nhiệm gần gũi với ta hơn và cử hành Thánh lễ sốt sắng hơn.

Các chiều kích khác nhau của bí tích Thánh Thể:

Như đã viết trong thông điệp Giáo Hội sống nhờ Thánh thể (Ecclesia de Eucharistia), trong tông thư xin Thầy ở lại với chúng con, Đức thánh cha lưu ý chúng ta không được bỏ sót một chiều kích nào của bí tích Thánh Thể (x.số 14). Trong số 15, ngài tổng hợp cho chúng ta các chiều kích khác nhau của mầu nhiệm : bí tích Thánh Thể tưởng niệm hy tế thập giá trên đồi Golgôta, một lần duy nhất thay cho mọi lần; là mầu nhiệm Hiệp thông (khía cạnh “bàn tiệc”);  trong khi hiện tại hoá mầu nhiệm Vượt Qua của Chúa, bí tích Thánh thể hướng chúng ta tới ngày Chúa trở lại (chiều kích cánh chung).

Mục đích của tông thư không là khai triển hết các chiều kích khác nhau của bí tích thánh thể, nhưng nhấn mạnh nhiều hơn sự hiện diện của Chúa ở giữa chúng ta. Trong số 16, Đức thánh cha viết tất cả các chiều kích của bí tích Thánh Thể đan kết lại với nhau trong một khía cạnh thử thách niềm tin của chúng ta hơn bất cứ khía cạnh nào khác, đó là sự hiện diện thực của Chúa. Bí tích Thánh thể là mầu nhiệm của sự hiện diện, là Chúa ở với chúng ta mọi ngày cho đến tận thế.

Chiều kích quan trọng nối kết các chiều kích khác nhau của mầu nhiệm Thánh Thể là sự hiện diên thực. Vì Chúa đến, Chúa hiện diện, chúng ta mới có thể cử hành hy tế của Chúa trong hiện tại. Thánh lễ hiện tại hoá hy tế thập giá của Chúa, chứ không tái diễn hy tế ấy, vì hy tế ấy chỉ xảy ra một lần và có giá trị cứu độ vĩnh viễn. Chúa đến và hiện diện, chúng ta mới có thể gặp gỡ Chúa, tiếp xúc với Chúa, ở lại với Người, gắn bó và nên một với Người, hiệp thông và chia sẻ sự sống của Người.

Đức Cha Phaolô BÙI VĂN ĐỌC (kỳ I)

 

23 Tháng Mười Hai - Thánh Gioan ở Kanty (1390 - 1473)

Thánh Gioan là một người sinh trưởng ở thôn quê nhưng biết lợi dụng thị thành cũng như Ðại Học Krakow ở Ba Lan để trau dồi thêm kiến thức. Sau khi hoàn tất việc học, ngài được thụ phong linh mục và là giáo sư thần học. Không may, vấn đề phe cánh thời ấy còn rất nặng nề nên những người ganh tị sự nổi tiếng của ngài đã lập mưu để đẩy ngài ra khỏi chức giáo sư. Ngay cả ngài không được phép lên tiếng và dẫn chứng để bào chữa. Bởi thế, vào lúc 41 tuổi, ngài bị đẩy về giáo xứ Olkusz, để học làm cha xứ.

Người dân ở Olkusz, Bohemia có đủ lý do để nghi ngờ vị cha xứ mới. Họ biết một giáo sư đại học nghĩ gì về cái thành phố quê mùa nhỏ bé của họ. Tệ hơn nữa, thành phố của họ đã từng được coi là nơi chứa chấp các linh mục bị "thất sủng."

Chắc chắn rằng nếu ngài nổi cơn thịnh nộ trước sự bất công ấy, có lẽ không một người giáo dân nào đổ lỗi cho ngài. Nhưng vì không muốn họ phải gánh chịu những hậu quả của hành động mình nên ngài đã im lặng.

Cuộc sống ở Olkusz cũng không dễ dàng gì. Ngài lo sợ trách nhiệm của một cha xứ. Bất kể ngài có cố gắng đến đâu, giáo dân vẫn giữ một thái độ lạnh lùng, xa cách. Nhưng hoạch định của Cha Gioan rất đơn giản, và hoạch định ấy xuất phát từ con tim chứ không phải trí óc. Trong bất cứ chương trình nào thực hiện, ngài đều cho họ thấy ngài thực sự lưu tâm đến người dân. Mặc dù sau nhiều năm vẫn chưa thấy dấu hiệu của sự thành công, ngài thận trọng không lộ vẻ tức giận hay thiếu kiên nhẫn. Ngài biết, người ta không thể bị ép buộc sống bác ái, bởi thế ngài đã cho họ những gì tốt đẹp nhất mà ngài hy vọng một ngày nào đó họ sẽ tìm thấy.

Sau tám năm trường, ngài được miễn tội và được trở về Krakow. Lúc ấy, ngài đã thu phục được lòng dân ở Olkusz, nên những người từng là thù nghịch trước đây đã tiễn chân ngài đến vài dặm để năn nỉ xin ngài ở lại với họ.

Trong quãng đời còn lại, ngài là giáo sư Kinh Thánh của trường đại học. Ngài được người ta mến chuộng đến nỗi thường được giới quý tộc mời ăn uống. Có lần, ngài bị người gác cửa từ chối không cho vào dự tiệc chỉ vì chiếc áo chùng thâm bạc phếch của ngài. Cha Gioan cũng không cãi lại mà trở về nhà, thay chiếc áo mới rồi trở lại. Trong bữa tiệc, người hầu bàn sơ ý làm đổ thức ăn trên chiếc áo mới của ngài. Thay vì khó chịu, ngài lại pha trò, "Không có gì. Chiếc áo của tôi cũng được ăn uống chứ. Nếu không vì lý do đó thì tôi đâu có đến đây."

Có lần Cha Gioan đang ngồi ăn và thấy người ăn xin đi qua trước cửa, ngài đứng dậy, đi theo, và cho họ tất cả những thức ăn ngài có. Không hỏi một lời, cũng không yêu cầu gì, khi nhận thấy nhu cầu của người khác ngài lập tức giúp đỡ họ với bất cứ gì ngài có.

Cha Gioan luôn lập đi lập lại cho các sinh viên về triết lý này, "Chiến đấu với mọi sai lầm, nhưng hãy thi hành với sự vui vẻ, kiên nhẫn, ân cần, và bác ái. Sự khắc nghiệt chỉ làm hại chính linh hồn bạn và phá đổ mục đích tốt đẹp nhất."


(HT 3-12-2023)

8 Tháng Mười Hai - Lễ Đức Mẹ Vô Nhiễm Nguyên Tội (Lc 1, 26-38)

 

Mỗi người chúng ta đều có một bà mẹ trần thế. Mẹ là người sinh ra ta, cho ta bú mớm vỗ về, an ủi ta. Mẹ là người dậy ta tiếng nói đầu đời. Mẹ đưa ta tới trường ,mở rộng chân trời cho ta tiến bước. Mẹ dậy ta biết vượt thắng gian nan, đẩy lui thử thách, biết quí trọng thời gian. Mẹ làm gương cho ta về lòng bao dung, chia sẻ, nhân ái. Mẹ dậy ta phải sống công bằng bác ái. Mẹ giúp ta ham sống và tìm ra ý nghĩa cuộc đời. Mẹ là niềm an ủi, là hạnh phúc và là sức mạnh để ta lướt thắng gian nguy .Vâng, Chúa đã trao cho mỗi người một bà Mẹ đáng yêu, đáng quí trọng, Chúa lại ban tặng cho nhân loại một bà Mẹ vượt trổi trên mọi bà Mẹ thế trần. Mẹ có tên tuyệt vời không tên nào dưới thế có thể diễn tả hết như Mẹ đã được gọi : MARIA .

 

 -Maria là ai ?

 

-Tại sao Mẹ lại vô nhiễm nguyên tội ?

 

-Đặc ân vô nhiễm nguyên tội giúp ích gì ta ?

  

I. MARIA LÀ AI ?

 

Ở đây , ta chỉ nói lướt qua về Maria qua đoạn suy niệm này vì bài này không phải là một nghiên cứu về tiểu sử của Mẹ theo nhãn giới Kinh Thánh hay suy tư thần học mà người viết chỉ phác hoạ đôi nét cơ bản để người đọc dễ nhận ra Maria là ai. Maria là Mẹ Đấng cứu thế, đã sinh ra Chúa Giêsu. Maria được sinh ra trong một gia đình đạo đức, thánh thiện. Cha Người là thánh Gioankim và mẹ Người là bà thánh Anna. Maria được sinh ra vào lúc hai ông bà Gioankim và Anna đã già nua, tuổi tác .Maria sống ở làng quê Nazarét, miền Bắc nước Palestina. Lớn lên như mọi người con gái thời đó, Maria đã đính hôn với Giuse, làm nghề thợ mộc ở làng Nagiarét, thuộc dòng dõi vua Đavít.

 

Tuy đã đính hôn với Giuse, nhưng Maria đã khấn giữ mình đồng trinh để đời đời dành riêng cho Thiên Chúa, nên chính trong thời điểm này, ý định của Thiên Chúa đã đổ xuống trên trinh nữ Maria. Thiên Chúa đã sai Thiên sứ Gabrien đến gặp trinh nữ Maria và nói lên ý định tuyệt vời của Thiên Chúa, chọn Maria làm Mẹ Đấng Cứu Thế . "...và này đây bà sẽ thụ thai,sinh hạ một con trai, và đặt tên là Giêsu "(Lc 1, 31 )

 

Maria bối rối, hoang mang, thưa với sứ thần: "Việc ấy sẽ xẩy ra cách nào, vì tôi không biết đến việc vợ chồng !"(Lc 1,34 ). Thiên sứ đã giải thích cho Maria rằng: "Thánh Thần sẽ ngự xuống trên bà,và quyền năng Đấng tối cao sẽ rợp bóng trên bà, vì thế, Đấng Thánh sắp sinh ra sẽ được gọi là Con Thiên Chúa "(Lc 1, 35 ) Sau khi được giải thích về việc thụ thai mà vẫn giữ mình thuộc trọn Thiên Chúa, Maria dứt khoát nói lời xin vâng: "Vâng, tôi đây là nữ tỳ của Chúa, xin Chúa cứ làm cho tôi như lời sứ thần nói "(Lc 1,38 ) . Và Ngôi Hai là Chúa Giêsu đã ngự trị trong lòng Đức Trinh nữ Maria .

 

Rồi lúc đến ngày sinh con, Mẹ Maria đã hạ sinh Chúa Giêsu nơi hang đá Bêlem(Lc 2,7 ), khi hai ông bà Giuse và Maria phải trở về quê quán để khai hộ khẩu theo lệnh của hoàng đế Au-gút-tô (Lc 2,1 ) . Sau đó hai ông bà Giuse và Maria lại phải đem Chúa Giêsu lánh qua nước Aicập để tránh việc tàn sát con trẻ của hoàng đế Hêrôđê cho tới khi Hêrôđê băng hà; hai ông bà Giuse và Maria lại bồng bế Hài nhi Giêsu trở về Nazarét quê nhà.

 

Mẹ Maria đã sống một cuộc đời hết sức âm thầm với Chúa Giêsu và thánh Giuse suốt 30 năm Chúa ở với hai ông ba. Trong ba năm Chúa đi rao giảng và kết nạp các môn đệ, chúng ta chỉ gặp Đức Mẹ một lần ở tiệc cưới Cana. Lần khác nữa khi Mẹ Maria và vài người bà con đi tìm Chúa Giêsu, Chúa đã trả lời : "...Những người nghe và giữ lời Ta giảng dậy, đó là Mẹ và anh em của Ta " (Mc 3,31-35 ) . Một lần nữa , chúng ta bắt gặp Mẹ Maria đứng dưới chân Thập Giá Chúa Giêsu trên đồi Canvê(Ga 19,25 ). Lần cuối cùng,chúng ta thấy Mẹ Maria và các môn đệ cầu nguyện chung trong nhà tiệc ly để chờ đợi Chúa Thánh Thần (Cv 1,14 ). Rồi sau đó, có lẽ Đức Mẹ đã theo thánh Gioan đi rao giảng Tin Mừng ở Tiểu Á và đã qua đời ở Êphêsô .

 

Maria đã sống ẩn dật, âm thầm nhưng vì Mẹ là Mẹ Đấng cứu thế , nên muôn đời mọi thế hệ đều ngợi khen, tung hô Mẹ .

 

II. TẠI SAO MẸ LẠI VÔ NHIỄM NGUYÊN TỘI ?

 

Tội nguyên tổ do hai ông bà tổ tiên Adong và Eva đã truyền lại cho con cháu muôn đời. Riêng Mẹ Maria vì là Mẹ Thiên Chúa, Mẹ Đấng cứu Thế, Thiên Chúa đã dành cho Người đặc ân vô cùng quí giá ngay khi Người còn đang trong cung lòng bà thánh Anna, vì công nghiệp của Chúa Giêsu Con Mẹ sẽ sinh ra sau này, Thiên Chúa đã gìn giữ Mẹ Maria nguyên tuyền, trinh trắng,không hề mang tì vết : đó là đặc ân vô nhiễm nguyên tội Thiên Chúa dành riêng cho mình Mẹ mà thôi .

 

Chính vì thế, không một phút, một giây nào trong đời sống, Đức Mẹ đã phải khuất phục ma quỉ, đã ở trong tình trạng tội lỗi. Dù khi thụ thai, dù lúc sinh con, Mẹ Maria luôn thuộc trọn về Chúa, nghĩa là lúc nào Mẹ cũng đầy tràn ân sủng của Chúa Thánh Thần, lúc nào Mẹ cũng đầy tràn ân phúc. Mẹ không hề mắc tội dù tội riêng mình làm vì Thiên Chúa đã tuyển chọn Mẹ, Mẹ phải là Đấng hoàn toàn nhất để xứng đáng làm Mẹ Ngôi Hai làm người. Mẹ là "Evà mới " như Giáo Hội đã ca tụng Mẹ "Thiên Chúa đã dọn cho con Ngài một chỗ ở xứng đáng nhờ đặc ân vô nhiễm nguyên tội của Đức Trinh Nữ" . "Mẹ được giữ sạch không vương chút tội lỗi nhờ vào ân sủng do cuộc tử nạn của Chúa Giêsu ".

 

Đức thánh Cha Piô IX đã long trọng tuyên bố tín điều Mẹ vô nhiễm nguyên tội ngày 8 tháng 12 năm 1854 và chỉ bốn năm sau đó chính Đức Mẹ đã hiện ra với Bernadetta tại Lộ Đức ngày 25 tháng 3 năm 1858 đã xác nhận: "Ta là Đấng Vô Nhiễm Nguyên Tội".

 

III. ĐẶC ÂN VÔ NHIỄM GIÚP GÌ CHO TA ?

 

Chúng ta là con cái Đức Mẹ, Một người Mẹ hoàn hảo nhất, tốt đẹp nhất vì Mẹ luôn trong trắng, luôn tươi xinh, không một vết tì ố nào có thể làm ô nhiễm tâm hồn Mẹ .

 

Với đặc ân vô nhiễm nguyên tội, đặc ân được gìn giữ hồn xác vẹn toàn , Mẹ Maria là "Evà mới ", Evà mang sự sống, chứ không mang cái chết, chỉ có tội mới đem lại sự dữ, mang lại cái chết cho con người , còn Mẹ vì là người vẹn toàn được Thiên Chúa ấp ủ, bao bọc như Chúa gìn giữ con ngươi mắt Chúa, nên Maria đã trở nên mẫu gương trung thành tuyệt đối cho ta về đức trinh khiết Mẹ dành trọn vẹn cho Thiên Chúa. Mẹ trở thành sao mai dẫn lối nhân loại vượt qua cuộc hải hành trần gian đầy cam go thử thách nhờ lòng tin kiên vững không hề lay chuyển qua lời thưa Xin Vâng của Mẹ. Maria đã cho ta hiểu qua đặc ân vô nhiễm nguyên tội , Mẹ bắt nguồn từ chính Thiên Chúa, Đấng nguyên vẹn, ngàn trùng chí Thánh , Đấng vô cùng chung thủy đối với nhân loại này .

 

Lạy Mẹ Maria vô nhiễm nguyên tội ,xin cho chúng con hiểu được rằng Chúa đã yêu thương Mẹ, yêu thương mọi người chúng con và không có việc gì mà Thiên Chúa không làm được .

 

Xin Mẹ giúp chúng con luôn biết ngước nhìn lên Mẹ dù cuộc đời chúng con có muôn ngàn vấp ngã , để chúng con luôn chỗi dậy và được Mẹ dắt tay chỗi dậy.

 

Xin Mẹ giúp chúng con và nhân loại biết bước đi trong vâng phục, tin tưởng và cậy trông như Mẹ đã luôn tuân phục ý Chúa, làm theo ý Chúa và thực thi Lời Chúa.

 

Lm. Giuse Nguyễn Hưng Lợi DCCT

(HT 26-11-2023)

THÁNH THỂ - BÍ TÍCH CỦA HIỆP HÀNH

       Các chuyên gia thường nhắc nhở chúng ta rằng; chúng ta đang sống trong một thế bị phân hóa và chia rẽ nghiêm trọng - về nhiều mặt chính trị, văn hóa và kinh tế... Chúng ta hầu như khó có thể đồng ý về bất cứ điều gì, ngay cả những lĩnh vực chân lý và những giá trị cơ bản. Chúng ta cũng không ngần ngại quy trách nhiệm nguyên nhân gây ra những đổ vỡ này cho bất cứ ai. Ai có khả năng tiếp xúc các thiết bị truyền thông đại chúng đều có thể tham gia vào những cuộc xung đột này và thực sự có nhiều người đang đổ thêm dầu vào lửa qua những phương tiện đó. Trái lại, chẳng có mấy ai, hứng thú đứng ra gợi ý những đề xuất để hàn gắn những rạn nứt sâu sắc đáng ngại này.

       Chúng ta nhiều lúc có thể nghĩ rằng; Giáo hội Công Giáo của chúng ta đã vượt lên trên những văn hóa chia rẽ bất đồng này, nhưng điều đó chưa bao giờ là hiện thực. Ngay từ đầu, Chúa Giêsu đã kêu gọi Giáo hội của Ngài, nhanh hoàn tất sứ mệnh loan báo Tin Mừng của mình giữa lòng thế giới. Trên hết tất cả, sứ mệnh của Giáo hội vừa là loan báo Tin Mừng cho từng cá nhân con người cũng như cho chính từng nền văn hóa - để biến đổi và tô điểm cho các nền văn hóa khắp nơi bằng các nhân đức và giá trị của Tin Mừng.

       Điều này nói lên ý nghĩa rằng Giáo hội mặc dù không thuộc về thế gian, nhưng thực sự hiện hữu cách rõ ràng không thể nghi ngờ giữa thế giới này. Không thể phủ nhận rằng sự chia rẽ đang vây bủa chúng ta, thậm chí ngấm sâu vào chính hàng ngũ Giáo Hội của chúng ta. Những thứ văn hóa bất đồng được phản ánh qua những chia rẽ đang bao phủ Giáo hội, ngay ở giữa chúng ta và ở nhiều nơi khác trên thế giới. Tuy nhiên, trong tình yêu của Thiên Chúa dành cho chúng ta, Ngài đã cho chúng ta một liều thuốc giải độc cho căn bệnh “bất Hiệp hành”, đó là Bí tích Thánh Thể, bí tích của sự hiệp nhất, Bí tích giúp mọi người có thể cùng ngồi chúng ngồi chúng, cùng đồng đạo và nhất là cùng nhau hành động trong yêu thương.

       Trong thời gian này, thời gian được đánh dấu bởi lời mời gọi bước vào tiến trình Hiệp hành toàn thể thế giới, chúng ta đặc biệt được thúc đẩy một cách cấp bách cần phải hiểu thật sâu và nắm bắt đầy đủ ý nghĩa giáo huấn của Giáo Hội về Bí tích Thánh Thể. Trong Thư gửi tín hữu Êphêsô, Thánh Phaolô kêu mời chúng ta “Anh em hãy thiết tha duy trì sự hiệp nhất mà Thần Khí đem lại, bằng cách ăn ở thuận hòa gắn bó với nhau” vì chúng ta là “một thân thể và một Thần khí”. (Ep 4, 3). Thánh Phaolô tiếp tục kêu gọi chúng ta đến với niềm hy vọng duy nhất mà chúng ta được chia sẻ: “Một Chúa, một đức tin, một phép rửa, một Thiên Chúa là Cha của tất cả mọi người... (Ep 4,6). Lời khuyên dạy của Thánh Phaolô phản ánh lời cầu nguyện tha thiết của Chúa Giêsu rằng chúng ta, các môn đệ của Ngài, sẽ chia sẻ sự hợp nhất của sự thật và tình yêu thương mà Ngài đã chia sẻ với Cha mình từ muôn thuở. “Lạy Cha, xin cho họ nên một, như Cha ở trong con và Con ở trong Cha... để thế gian tin” (Ga 17:21). Bản chất và sứ mạng của Giáo hội phụ thuộc vào sự hợp nhất và khả năng Hiệp hành sâu sắc của chúng ta với Chúa và với nhau.

       Vì vậy, mối quan tâm đến sự hợp nhất của Giáo hội không chỉ đơn chỉ là thuần là một sự mong muốn được an bình mang tính lý thuyết - như kiểu nói, “ Này bạn, chúng ta có thể sống hòa hợp với nhau không?” Nhưng chúng ta phải hành động để đạt đến mức cao, sâu hơn thế. Hành động, như Thánh Giacôbê khuyên dạy để chứng tỏ đức tin của một tín hữu đang thực sự sống đạo của mình. Trong sự hợp nhất phong phú và đa dạng của mình, Giáo hội được mô phỏng dựa trên sự hiệp nhất của các Ngôi vị trong Ba Ngôi Thiên Chúa (xem Lumen Gentium, số 4). Hòa mình vào sự hợp nhất trong tình yêu và chân lý của Thiên Chúa là trọng tâm của bản chất và sứ mệnh của chúng ta. Thật vậy, chúng ta phải là một bí tích - một dấu chỉ sống động và hữu hiệu - của sự hiệp nhất giữa Ba Ngôi Thiên Chúa trong một thế giới đầy rạn nứt.

 

       Trung tâm của đời sống Giáo hội là Bí tích Thánh Thể, Bí tích của sự hiệp nhất và hành động trong bác ái yêu thương. Chia sẻ với nhau trong bữa tiệc của Thiên Chúa hiến mình vì yêu - qua đó Ngài đã chiến thắng tội lỗi và sự chết - chúng ta gắn kết với nhau bằng một tình yêu hiệp nhất. Trong quyền năng của Chúa Thánh Thần, Chúa bị đóng đinh và phục sinh kéo chúng ta đến với chính Ngài và kết hợp chúng ta với Cha trên trời và với nhau. Như các tác giả thời xưa thường nói, “Bí tích Thánh Thể tạo nên Giáo hội”. Giáo hội lại tiếp tục mang lại sự hiệp thông của tình yêu và sự sống cho thế giới.

       Sự hiệp thông là Bí tích Thánh Thể cũng trang bị và đòi hỏi chúng ta phải suy nghĩ và thay đổi cách sống - không thể để “sóng đánh tung và gió cuốn mất những lời giảng dạy” trong Thư của Thánh Phao Lô (Ep 4,14). Đúng hơn, chúng ta phải “sống theo sự thật trong tình yêu”. Sự kết hợp của chúng ta với Chúa Giêsu Thánh Thể phát xuất trong sự kết hợp giữa đức tin và hy vọng nhưng cũng là sự hiệp nhất trong tình yêu và đón nhận những gì là chân chính và tốt lành về mặt luân lý, hoàn toàn phù hợp với phẩm giá con người. Đây là cách chúng ta thực hành tình yêu mà chúng ta cử hành trong Bí tích Thánh Thể. Đây cũng là cách chúng ta xây dựng Nhiệm thể Chúa Kitô.

       Trong thế giới ngày nay, sự hiệp nhất của Giáo hội sẽ luôn chưa hoàn hảo và vì thế lời khuyên của Thánh Phaolô hãy luôn cố gắng xây dựng sự hiệp nhất vẫn còn nguyên giá trị. Vì thế, càng có nhiều lý do để chúng ta mở lòng đón nhận Bí tích Thánh Thể, nguồn hiệp nhất của chúng ta và là nguồn sức mạnh mà chúng ta cần để xây dựng sự hiệp nhất của Giáo hội, Nhiệm Thể Chúa Kitô.

       Hiệp hành – bước đi nếu được khởi hứng và trung thành bước đi trong Thánh Thể chắc chắn sẽ luôn được cả thế giới tin tưởng dõi theo!

Lm. Giuse Trần Ngọc Tân, SSS. Trưởng Ban sứ vụ.

 

30 Tháng Mười Một - Thánh Anrê Tông Đồ

Thánh Anrê là anh của Thánh Phêrô, và cả hai được Chúa Giêsu gọi cùng một lúc. "Khi Ðức Giêsu đi trên bờ biển Galilee, Người trông thấy hai anh em, ông Simon mà bây giờ gọi là Phêrô, và anh của ông là Anrê, đang quăng lưới xuống biển; họ là các ngư dân. Người nói với họ, 'Hãy đến theo tôi, và tôi sẽ làm cho các anh trở thành kẻ lưới người.' Lập tức hai ông bỏ chài lưới mà đi theo Người" (Mt 4:18-20).

Thánh Sử Gioan mô tả Thánh Anrê như một môn đệ của Thánh Gioan Tẩy Giả. Một ngày kia, khi Ðức Giêsu đi ngang qua, Gioan Tẩy Giả nói, "Ðây là Chiên Thiên Chúa." Anrê và các môn đệ khác đi theo Ðức Giêsu. "Ðức Giêsu quay lại và thấy họ đi theo mình, Người hỏi, 'Các anh muốn tìm gì?' Họ trả lời, 'Thưa Thầy, Thầy ở đâu?' Ngài nói, 'Hãy đến, và các anh sẽ thấy.' Bởi đó họ đi theo và đã thấy nơi Người cư ngụ, và họ ở với Người cả ngày hôm ấy" (Gioan 1:38-39a).

Trong Phúc Âm không nói nhiều về Thánh Anrê. Trong phép lạ bánh hoá nhiều, chính Anrê là người cho biết về đứa bé trai có một ít bánh và cá (x. Gioan 6:8-9). Khi dân ngoại muốn đến gặp Ðức Giêsu, họ đến với ông Philíp trước, nhưng ông Philíp lại bàn hỏi với ông Anrê (x. Gioan 12:20-22).

Truyền thuyết nói rằng chính Thánh Anrê đã rao giảng Tin Mừng ở những nơi mà bây giờ là Hy Lạp và Thổ Nhĩ Kỳ, và bị chết trên thập giá ở Patras.

(HT 19-11-2023)

MẦU NHIỆM THÁNH THỂ: TÌNH YÊU ĐI BƯỚC TRƯỚC (tt)

 

Sáng kiến Tình Yêu của Chúa Cha

Thánh Gioan nhấn mạnh sáng kiến Tình Yêu của Chúa Cha trong chương trình cứu độ: “Tình Yêu cốt ở điều này: không phải ta yêu mến Thiên Chúa, nhưng chính Người đã yêu thương chúng ta, và sai Con của Người đến làm của lễ đền tội cho chúng ta” (1 Ga 4,10). Khi cử hành thánh lễ, chúng ta hãy tin một cách tuyệt đối vào sáng kiến tình yêu của Chúa Cha, tình yêu tạo dựng và cứu độ của Người.

Hãy đón nhận tình yêu của Người bằng cách đón nhận Đức Giêsu Kitô, Con Một yêu dấu mà Người đã tặng ban cho chúng ta. Trong Mầu nhiệm Thánh Thể, Chúa Kitô là Tặng Phẩm thần linh, là món quà lớn nhất, quý trọng nhất mà Thiên Chúa ban cho chúng ta. Không thể có món quà nào quý trọng hơn là Con Thiên Chúa, đồng bản thể với Thiên Chúa. Thiên Chúa ban tặng Chúa Kitô cho ta, là ban tặng chính bản thân mình cho ta. Chúa Kitô là Bánh Sự Sống, Bánh bởi Trời mà Chúa Cha ban cho ta để ta có sự sống đời đời.

Mọi người chúng ta là số không đời đời nếu không có sáng kiến tạo dựng của Thiên Chúa, và mọi người chúng ta đều phải chết nếu không có sáng kiến cứu độ của Người.

Sáng kiến Tình Yêu của Chúa Kitô

Thiên Chúa Cha yêu thương chúng ta và đi bước trước. Chúa Kitô, Con Một yêu dấu của Người cũng đi bước trước. Trong Bí tích Thánh Thể, chúng ta đón nhận sáng kiến tình yêu của Chúa Giêsu. Chúa Giêsu là Lời Nói vĩnh hằng của Chúa Cha. Người không ngừng sinh ra từ Chúa Cha; không ngừng đón nhận bản thân mình từ Tình Yêu của Chúa Cha và dâng hiến lại cho Chúa Cha.

Người đã làm người và ở giữa chúng ta để nói lên Tình Yêu của Chúa Cha. Người đến với chúng ta nhân danh Thiên Chúa Cha. Chúa Giêsu ý thức Người là Hồng Ân, là Tặng Phẩm thần linh mà Chúa Cha ban cho nhân loại: “Bánh Thiên Chúa ban là bánh từ trời xuống, bánh đem lại sự sống cho thế gian…” (Ga 6,33).

Đáp lại sáng kiến yêu thương của Chúa Cha và tiếp nối sáng kiến ấy, Chúa Giêsu đã hiến mình làm của lễ hy sinh vô tì tích dâng lên Thiên Chúa trên thập giá, và đã tự hiến làm lương thực cho chúng ta trong Bí tích Thánh Thể. Bí tích Thánh Thể là sáng kiến của Chúa Giêsu, nơi Người chúc tụng ngợi khen Thiên Chúa Cha với tư cách là Thượng Tế Giao Ước Mới, nơi Người không ngừng đến với chúng ta và ở lại với chúng ta mọi ngày cho đến tận thế.

Chúa Giêsu rất muốn chúng ta đón nhận Người, vì đón nhận Người là đón nhận hồng ân Chúa Cha ban, là đón nhận chính Chúa Cha. Đó là lý do khiến Người mời gọi tha thiết: “Chính tôi là Bánh trường sinh, ai đến với tôi, không hề phải đói, ai tin vào tôi, chẳng khát bao giờ! Tôi tự trời mà xuống, không phải để làm theo ý tôi, nhưng để làm theo ý Đấng đã sai tôi” (Ga 6,35.38).

Trong diễn từ Bánh Sự Sống trong đoạn 6 Tin Mừng Gioan, có chỗ Chúa diễn tả sự thất vọng của mình trước đám đông người Do Thái chỉ đi tìm của ăn trần thế: “Các ông hãy ra công làm việc không phải vì lương thực hay hư nát, nhưng để có lương thực thường tồn đem lại phúc trường sinh là thứ lương thực Con Người sẽ ban cho các ông…” (Ga 6,27).

Có tương quan mật thiết giữa Mầu nhiệm Nhập Thể và Mầu nhiệm Thánh Thể: Ngôi Lời đã trở nên xác phàm để trở thành bánh. Trong đoạn 1 Tin Mừng Gioan và trong đoạn 6, tác giả dùng cùng chữ sarx để chỉ thịt mình (caro, chair): Verbum caro factum est (Ga 1,14); Caro enim mea vere est cibus: Thịt tôi thật là của ăn (Ga 6,55). Cử hành Thánh Thể là đón nhận Lời của Chúa Cha, đón nhận Tình Yêu mà Chúa Cha biểu lộ nơi Chúa Giêsu, đón nhận Giao ước mới mà Chúa Cha ký kết nhờ Máu của Chúa Giêsu. Chính Chúa Giêsu đã tự nguyện trở thành Giao ước mới và vĩnh cữu giữa Thiên Chúa và nhân loại.

Sáng kiến Tình Yêu của Chúa Thánh Thần

Bí tích Thánh Thể còn là sáng kiến tình yêu của Chúa Thánh Thần, là một mầu nhiệm thánh, là công việc thần thiêng. Trước khi rước Mình và Máu thánh Chúa, linh mục chủ sự đọc thầm: “Lạy Chúa Giêsu Kitô, Con Thiên Chúa hằng sống, bởi thánh ý Chúa Cha, và sự hợp tác của Chúa Thánh Thần, Chúa đã chết để ban cho thế gian được sống.”

Chúa Thánh Thần luôn hợp tác rất mật thiết với Chúa Giêsu. Ngài là Dầu xức của Chúa, khiến Chúa có tước hiệu là Đức Kitô, Đấng được Chúa Cha xức dầu và sai đi rao giảng tin mừng. Ngài luôn cộng tác với Ngôi Lời Thiên Chúa, ngay từ lúc tạo dựng; cùng với Ngôi Lời, Ngài được Thánh Giáo phụ Irênê ví như hai bàn tay của Thiên Chúa trong công cuộc tạo dựng. Ngài đã cộng tác đặc biệt trong biến cố Ngôi Lời Nhập Thể, và không ngừng cộng tác trong cuộc sống tại thế của Chúa Giêsu, trong cái chết hy sinh của Chúa (x. Dt 9,14). Ngài đã tác động mạnh mẽ trong sự Phục sinh của Con Thiên Chúa.

Mỗi lần Giáo Hội cử hành Phụng vụ, đều có Thần Khí Chúa tác động mạnh mẽ. Thần Khí Chúa cũng đi bước trước như Chúa Giêsu và Thiên Chúa. Chúa Thánh Thần là Đấng quy tụ chúng ta thành Giáo Hội là Cộng Đồng tư tế (Kahal) để chúng ta có thể cử hành Thánh lễ. Chúa Thánh Thần khơi dậy lòng thống hối nơi mỗi người tín hữu. Thánh Thần khai mở tâm hồn chúng ta để chúng ta lắng nghe Lời Chúa. Ngài làm cho Lời Chúa thấm nhập vào tâm trí của chúng ta. Ngài tác động trên linh mục chủ sự, để linh mục giảng giải Lời Chúa.

Nhưng quan trọng hơn cả là Chúa Thánh Thần làm cho bánh và rượu trở nên Mình và Máu Thánh Chúa. Theo một nghĩa nào đó, Chúa Thánh Thần đưa Chúa Kitô đến cho chúng ta, như Ngài đã làm cho Ngôi Lời Nhập Thể trong lòng Trinh Nữ Maria; đã làm cho Đức Giêsu Kitô trỗi dậy từ cõi chết. Nhờ quyền năng tác động của Chúa Thánh Thần, chính Chúa Kitô Phục Sinh hiện diện và trở thành nơi gặp gỡ trọn vẹn giữa Thiên Chúa và loài người. Chúa Thánh Thần làm cho chúng ta nên một với nhau trong Chúa Kitô, khi chúng ta được thông phần Mình và Máu Thánh. Chúa Thánh Thần là Ơn thông hiệp.

Gm. Phaolô Bùi Văn Đọc (đăng kỳ II và hết)


 21/11 - Lễ Dâng Ðức Maria Vào Ðền Thánh

Ngày lễ dâng Ðức Maria được cử hành ở Giêrusalem từ thế kỷ thứ sáu, và một nhà thờ được xây cất ở đây để kính nhớ. Giáo Hội Ðông Phương rất tha thiết với ngày lễ này, trong khi Giáo Hội Tây Phương chỉ mừng lễ này vào thế kỷ 11. Sau đó, có quãng thời gian không thấy ngày lễ này trong niên lịch phụng vụ, và mãi cho đến thế kỷ 16, lễ này mới được chính thức đưa vào lịch Giáo Hội.

Như sự sinh hạ của Ðức Maria, chúng ta biết về việc dâng Ðức Maria vào đền thờ cũng qua các văn bản được gọi là ngụy thư. Trong một văn bản không có giá trị lịch sử là Tiền Tin Mừng Giacôbê cho chúng ta biết, khi Ðức Maria lên ba tuổi, Thánh Anna và Thánh Gioankim đã lên Ðền Thánh để dâng người cho Thiên Chúa. Ðiều này được thực hiện là vì một lời hứa với Thiên Chúa của Thánh Anna khi người còn hiếm muộn.

Mặc dù không có giá trị lịch sử, việc dâng Ðức Maria vào đền thánh mang ý nghĩa thần học quan trọng. Ngày lễ này được coi như tiếp nối lễ Vô Nhiễm Nguyên Tội và lễ sinh nhật của Ðức Maria. Nó nói lên sự thánh thiện được trao ban cho Ðức Maria từ lúc lọt lòng, qua thời thơ ấu cho đến khi trưởng thành.

24/11 - Thánh Anrê Dũng Lạc và Các Bạn

Thánh Anrê Dũng Lạc là một trong 117 vị tử đạo ở Việt Nam trong những năm từ 1820 đến 1862. Các ngài được phong chân phước làm bốn đợt, từ 1900 đến 1951. Sau cùng, các ngài được Ðức Giáo Hoàng Gioan Phaolô II phong thánh vào năm 1988.

Kitô Giáo được người Bồ Ðào Nha đưa vào Việt Nam qua ba triều đại. Vào năm 1615, các linh mục dòng Tên mở khu hội truyền giáo đầu tiên ở Ðà Nẵng. Ở đây các cha coi sóc các người Công Giáo Nhật Bản bị tống ra khỏi nước.