trung tâm công giáo việt nam

GIÁO PHẬN ORANGE, CALIFORNIA, USA

1538 Century Blvd, Santa Ana, CA 92703
Phone: (714) 554-4211 Fax: (714) 265-1161
Email: hiepthong2013@gmail.com

Linh mục Giám Đốc: cha Vincenté Phạm Ngọc Hùng

Linh mục Phụ Tá: cha Giuse Nguyễn Đức Dũng

Lòng Tin Bằng Hạt Cải


Bài Tin Mừng hôm nay bắt đầu với lời các Tông Đồ kêu xin Chúa Giêsu, “Xin Thầy ban thêm lòng tin cho chúng con.” Nhiều người chúng ta không khỏi thắc mắc, “Chuyện gì đã xảy ra khiến cho các ông phải kêu xin như vậy?” Lời kêu xin dường như ẩn chứa điều gì làm các ông sợ hãi.

Đoạn Tin Mừng ngay trước đó có thể giúp chúng ta hiểu được lý do tại sao. Đoạn này trình thuật Chúa Giêsu giảng dạy các môn đệ về hậu quả nghiêm trọng dành cho những ai làm cớ cho người khác phạm tội. Chúa nói, “… vô phúc cho kẻ nào gây ra gương xấu. Thà nó bị cột cối đá vào cổ mà ném xuống biển còn hơn là làm gương xấu cho một trong những trẻ nhỏ này” (Lc 17:1-2). Tiếp đến, Ngài giảng dạy về sự cần thiết phải tha thứ cho những ai lỗi phạm đến mình. Hai bài học này đã đánh động các Tông Đồ, kêu xin Chúa ban thêm lòng tin cho họ để họ có thể làm gương sáng thay vì gương mù gương xấu, và để sẵn sàng sống với lòng vị tha.

Để trả lời cho các Tông Đồ, Chúa Giêsu nói, “Nếu các con có lòng tin bằng hạt cải, thì dẫu các con khiến cây dâu này rằng: ‘Hãy bứng rễ lên mà đi trồng dưới biển,’ nó liền vâng lời các con.” Theo nhận xét của một trí khôn bình thường, thì đây là một việc làm bất khả thi, nhưng Chúa Giêsu muốn nhấn mạnh đến sức mạnh của lòng tin rằng, nó có thể làm được cả những chuyện phi thường như dời núi lấp biển.

Chuyện phi thường này đã xảy ra cho đất nước Do Thái vào thời của Tiên tri Khabacúc ngày xưa. Khi nhìn thấy được toan tính xâm lăng của vương quốc Assyria và sự đe dọa của vua chúa Babylon, Khabacúc đã chạy đến Chúa, như chúng ta nghe trong bài đọc một, để thưa với Chúa rằng, “Cớ sao Chúa tỏ cho con thấy sự gian ác và lao khổ, cướp bóc và bất lương trước mặt con?” Mặc dù đây là một lời than van, nhưng nó nói lên lòng tin của ông vào quyền năng của Thiên Chúa có thể cứu thoát dân tộc Do Thái. Nếu không ông đã chẳng chạy đến với Ngài.

Như tiên tri Khabacúc, chúng ta và những cử tri Công Giáo tại California đang phải đối đầu với sự gian ác và bất lương của Dự Luật 1. Dự luật này là một hành động cực đoan và không cần thiết, đang muốn biến California thành “thánh địa phá thai” cho toàn quốc. Nếu dự luật này được thông qua, mọi giới hạn và ràng buộc hiện tại cho luật phá thai tại California sẽ được tháo bỏ. “Kỹ nghệ phá thai” sẽ trục lợi từ tiền thuế của chúng ta để cướp đi sự sống của những thai nhi vô tội, ngay cả lúc sắp sửa được sinh ra.

Nếu thuở xưa tiên tri Khabacúc thấy được những điều gian ác và bất lương khi Assyria và Babylon cướp bóc đất nước Do Thái, thì ngày hôm nay, chúng ta là những người Công Giáo, với lương tâm ngay lành, không thể để cho Dự Luật 1 áp đặt sự gian ác và bất công lên xã hội ngày hôm nay. Chúng ta hãy học nơi các Tông Đồ xin với Chúa “thêm lòng tin cho chúng con” và cho tất cả mọi cử tri California để chúng ta cùng đồng lòng duy trì California là một thánh địa nhân bản và công bình.

LM Phạm Ngọc Hùng

(Chúa Nhật 27TN 2-10-2022)

Người Phú Hộ và Lazarô

Sự chênh lệch giầu nghèo là điều hiển nhiên trong mọi xã hội và tập thể. Ngay cả trong một cộng đồng nhỏ bé như một giáo xứ, ai cũng có thể nhìn thấy được sự chênh lệch giầu nghèo. Vì nhiều lý do khác nhau đã đưa đến những sự chênh lệch này: xã hội bất công, người mạnh hà hiếp người yếu, kẻ có quyền áp bức người yếu thế, bệnh tật, lười biếng, trình độ học vấn, vv. Tất cả những lý do này đều có thể tạo ra những hoàn cảnh giầu nghèo khác nhau trong một tập thể.

Sự chênh lệch giầu nghèo không hẳn là xấu và cũng chẳng do lỗi của ai. Trong bài Tin Mừng hôm nay, Chúa Giêsu không hề lên án người phú hộ bởi vì giầu có không phại là tội, ngược lại đó chính là ân phúc Chúa ban cho. Chúa cũng không lên án người hành khất Lazarô, và bài TM cũng không nói lý do nào đã đưa đẩy anh đến cảnh nghèo khổ như vậy. Chúa Giêsu chỉ muốn chúng ta nhận ra hai hoàn cảnh giầu nghèo là một thực tế trong cuộc sống hàng ngày.

Điều làm cho nhiều người phải suy tư, đó là tại sao người hành khất Lazarô được hưởng hạnh phúc thiên đàng; còn người nhà giầu phải chịu cực hình trong hỏa ngục. Có phải cứ nghèo là được Chúa chúc phúc, và giầu có là mang tội sa hỏa ngục? Dĩ nhiên đây không phải là lý do. Trong Tám Mối Phúc Thật, ngay mối đầu tiên cho thấy, “Ai có lòng khó khăn, ấy là phúc thật vì nước trời là của họ.” Người hành khất Lazarô nghèo khổ, nhưng anh không làm điều gì sai trái. Anh đói khát và chỉ “ước được những mụn bánh từ bàn ăn rớt xuống để ăn cho đỡ đói,” chứ anh không hề mưu toan trộm cướp.

Riêng người nhà giầu, bài Tin Mừng cũng không nhắc đến tại sao ông giầu, chỉ nói đến của cải ông có và những yến tiệc hành ngày của ông. Nếu chỉ dựa trên những chi tiết này, cũng không ai có thể kết án ông bởi vì đó chính là của cải Thiên Chúa ban cho ông. Tuy nhiên điều có thể đã khiến người nhà giầu này phải sa hỏa ngục, đó là ông không hề đoái thương đến người đói khổ nằm bên cổng nhà ông. Bài Tin Mừng nói rõ, Lazarô nằm bên cổng nhà ông, chứ anh ta không ở xa mà ông không thấy, “nhưng không ai thèm cho” anh lấy một vụn bánh. Người phú hộ này không bố thí cho anh ta và cũng không cho gia nhân đem chút cơm thừa canh cặn ra cho Lazarô.

Dụ ngôn người phú hộ và Lazarô là câu chuyện hàng ngày của nhân loại ở bất cứ nơi đâu và trong mọi thời đại. Hàng ngày chúng ta chung sống với rất nhiều hình ảnh Lazarô khác nhau, không chỉ riêng những người hành khất cầm lon xin tiền. Một trong những hình ảnh cụ thể nhất là các thai nhi. Các em là những con người yếu thế, không có tiếng nói, và đang bị những người mạnh hơn và cả một văn hóa sự chết tàn sát các em hàng ngày. Chúng ta không thể làm ngơ trước hình ảnh của các em đang “nằm bên cổng” nhà chúng ta, mà không làm gì để bảo vệ các em.

Một hình ảnh khác nữa, đó là những người mẹ đang phải đối phó với bào thai ngoài ý muốn. Họ sống trong bối rối và lo lắng. Họ cần được thông cảm, hướng dẫn, và nâng đỡ. Họ cũng là những Lazarô, cần đến sự trợ giúp của chúng ta. Họ có thể là những người xa lạ, hoặc những người Chúa gửi đến cho chúng ta, hay ngay cả những người thân trong gia đình. Trước khi có thể đánh bại Dự Luật 1, chúng ta hãy cầu nguyện cho họ và nâng đỡ họ.

Như người phú hộ, chúng ta được Chúa ban cho rất giầu có về niềm tin, thời giờ, lòng nhân ái, và có thể cả của cải vật chất. Số phận của người phú hộ là một hậu quả đáng tiếc mà không ai trong chúng ta muốn sa vào. Những hành động cụ thể như bỏ phiếu chống Dự Luật 1 và nâng đỡ những phụ nữ đang mang thai trong hoàn cảnh khó khăn, sẽ giúp chúng ta sống phù hợp với thánh ý Chúa hơn.

LM Vincentê Phạm Ngọc Hùng

(Chúa Nhật 26TN 25-09-2022)

Con Cái Đời Này – Con Cái Sự Sáng

Tuần trước chúng ta đã được nghe dụ ngôn “Người Con Hoang Đàng.” Tuần này chúng ta được nghe dụ ngôn về người quản lý bất lương, cũng giống như người con hoang đàng, đã phung phí tài sản của chủ. Người quản lý đã phung phí vì bất cẩn, năng lực kém, hay có ác ý, điều đó bài Tin Mừng không nói tới. Điều chúng ta biết được, đó là anh ta đã mau chóng và xảo quyệt chuẩn bị cho tương lai của mình sau khi bị chủ đuổi.

Người quản lý tự nhận không có sức khỏe để cuốc đất và cũng không thể đi ăn xin vì quá xấu hổ. Điều anh có thể làm được là ưu đãi những con nợ của chủ bằng cách cắt đi lãi xuất có được từ số nợ của mỗi người, không thiệt hại gì đến số nợ của chủ và cũng chẳng mất mát gì của anh ta. Theo văn hóa thời bấy giờ, những người mang nợ không thể tưởng tượng ra được người quản lý này có đủ thẩm quyền để cắt giảm như vậy, nhưng họ vẫn mau chóng ghi lại số nợ đã được giảm xuống như anh ta chỉ dẫn. Quyết định của anh đã gây được thiện cảm nơi những người mang nợ, và hy vọng họ sẽ nâng đỡ anh sau này.

Riêng về người phú hộ, nhiều người không khỏi ngạc nhiên, tại sao ông lại có thể khen người quản lý này là “khôn ngoan” khi anh ta tự cắt xén lãi xuất của chủ khi không được phép. Thực ra hai chữ “khôn ngoan” trong bản văn tiếng Việt và chữ “prudently” của bản văn Anh ngữ không diễn tả chính xác chữ φρονίμως của nguyên ngữ Hy Lạp. Chữ này có nghĩa là biết dùng một vật dụng nào đó làm một điều cần thiết cho chính mình kể cả những việc làm bậy. Như vậy hai chữ “khôn ngoan” được dùng trong bản văn tiếng Việt không hẳn là nói đến một việc làm tốt lành.

Thực ra Chúa Giêsu không khen người quản lý này bởi vì chính Ngài gọi anh ta là “bất lương.” Tuy nhiên Ngài muốn dùng đến cái tài khéo léo tùy cơ ứng biến của anh, là hình ảnh đại diện cho “con cái đời này,” để chỉ dạy cho “con cái sự sáng” biết dùng những ân sủng Chúa ban, là những của cải chân thật, để làm cho nước Chúa thêm phong phú và rạng sáng. Mỗi người chúng ta được Chúa ban cho rất nhiều “của cải chân thật,” nhiều gấp mấy lần những “của cải gian dối” mà “con cái đời này” muốn dùng để thống trị chúng ta.

Trong thời gian này, chúng ta đang phải đối phó với mưu mô của “con cái đời này” đang dùng Dư Luật 1 để bắt chúng ta theo chúng. Dự luật này, nếu thông qua vào tháng 11 này, sẽ cho phép phá thai mà không đặt ra bất cứ một giới hạn nào, ngay cả khi đứa trẻ sắp được sinh ra. Tệ hại hơn nữa là dự luật này sẽ biến California trở thành “thánh địa phá thai” cho toàn quốc. “Con cái đời này” sẽ dùng tiền thuế của chúng ta để chi trả, không những cho những tốn kém phá thai cho người trong tiểu bang, mà cả những người bất cứ nơi đâu muốn tới California phá thai. Ngành Lập Pháp của tiểu bang sẽ cho phép dùng tiền thuế để trả tiền máy bay, khách sạn, ăn uống, và cả phí tổn trông coi em bé, nếu họ có con nhỏ. Dự Luật 1 sẽ dùng sự bất công để bắt chúng ta sống theo “con cái đời này.”

Đáp lại lời mời gọi của Hội Đồng Giám Mục California, chúng ta cần phải dùng “của cải chân thật” mình đang có là niềm tin, lương tâm ngay lành, và đức công bình để đánh bại Dự Luật 1. Để thực hiện được điều này, chúng ta cần phải ghi danh bầu cử để bỏ phiếu “NO”, chống lại dự luật cực đoan. Đây là điều cần thiết mà “con cái sự sáng” cần phải cộng tác với nhau để duy trì một xã hội công bình và nhân bản.

LM Vincentê Phạm Ngọc Hùng

(Chúa Nhật 25TN 18-09-2022)

Tấm Lòng của Người Cha

Các câu chuyện Phúc Âm thường cho chúng ta thấy có hai giai cấp tương phản nhau trong xã hội người Do Thái thời Chúa Giêsu, và bài Tin Mừng ngày hôm nay là ví dụ điển hình. Thành phần thứ nhất là những người thu thuế và gái điếm, được gọi chung là những người tội lỗi. Những người này thường được Chúa Giêsu quan tâm một cách nhân ái hơn để họ có thể nhận ra lòng từ bi của Thiên Chúa. Do vậy họ thường tìm cách đến gần Ngài để nghe giảng dạy.

Thành phần thứ hai là những Biệt Phái, luật sĩ, tư tế, trưởng lão, nói chung là thành phần lãnh đạo tôn giáo. Nhóm người này tự xưng là công chính, hay soi mói đời sống người dân và ghét bỏ những người tội lỗi. Chính vì lý do này mà họ thường xuyên bị Chúa Giêsu quở trách. Ngài quở trách không phải vì ghét bỏ họ, nhưng vì yêu thương họ và muốn họ bao dung hơn với người tội lỗi. Đây là một trong những ý tưởng được diễn tả trong bài Tin Mừng hôm nay.

Dụ ngôn Người Con Hoang Đàng trước hết cho chúng ta thấy tình yêu nhân ái của Thiên Chúa dành cho những người tội lỗi và bị xã hội ruồng bỏ. Hình ảnh của người con thứ đã nói lên điều này. Anh xin cha anh chia cho anh phần gia tài thuộc về anh. Người cha chẳng nói một lời, và cũng chẳng hỏi đến lý do. Là cha của anh, dĩ nhiên ông biết con người anh như thế nào và hiểu được lý do tại sao anh đòi chia gia tài, nhưng ông vẫn lặng lẽ đưa cho anh phần gia tài thuộc về anh.

Nhận của cải xong, anh bỏ nhà đi phương xa. Có lẽ anh không nghĩ đến ngày sẽ phải trở về nhà và cũng không ngờ đến hậu quả thê thảm vì tính tình hoang đàng của mình. Sau khi tiêu xài phung phí hết tiền của, không những anh đã phải sống cảnh cùng đinh trong xã hội, nhưng còn phản nghịch lại lề luật của Thiên Chúa. Anh chăn heo cho người dân ngoại, và thậm chí còn ăn cả đồ ăn cho heo ăn.

Trong cảnh khốn cùng, anh đã hồi tâm và hối lỗi. Anh tự nhủ sẽ nói với cha anh, “Lạy Cha, con đã lỗi phạm đến Trời và đến cha.” Hồi tâm thôi chưa đủ, anh quyết định trở về. Với tội lỗi của mình, anh chỉ mong làm người hầu trong gia đình, nhưng khi gặp lại cha, mọi sự đã hoàn toàn thay đổi. Cha anh đã đón nhận anh trở lại với tình thương bao dung vô bờ bến của một người cha nhân lành. Như ngày anh đi, ông không hỏi tại sao anh bỏ đi, nay anh trở về, ông cũng không để anh nói hết lời xin lỗi bởi vì ông đã tha thứ cho anh rồi. Ông nuôi sẵn bê béo ở trong đàn, và chuẩn bị đầy đủ giầy, nhẫn, và áo để ăn mừng vì anh đã chết nay sống lại. Đó là tình thương ông dành cho người con thứ.

Với người con cả, hình ảnh của những người Biệt Phái, luật sĩ, tư tế, và trưởng lão, người cha đã không hề tỏ ra thất vọng hay ghét bỏ người con này, nhưng ông thương anh ta với tình thương vượt trên lý lẽ và suy tưởng của anh. Anh không chấp nhận em anh được trở về làm người con trong gia đình; anh cho rằng mở tiệc ăn mừng em anh trở về là không công bằng với anh; anh không muốn vào nhà để đồng bàn với một người hư hỏng tội lỗi như em của anh. Người con cả này xem ra khó khăn hơn là người con thứ, nhưng người cha vẫn nhẫn nại gần như van xin anh hãy ăn mừng, không những “vì em con đã chết nay sống lại, đã mất nay lại tìm thấy,” nhưng còn để sum họp lại gia đình.

Tấm lòng của người cha không một chỗ nào là giận, ghét, quát, mắng, trách móc. Tâm hồn ông chỉ có một đặc tính duy nhất đó là yêu thương và tha thứ. Chúa không trừng phạt khi chúng ta lỗi phạm đến Ngài; Chúa không xua đuổi khi chúng ta hồi tâm và trở về; và Chúa luôn tìm cách để chúng ta sum họp với nhau trong một gia đình của Chúa. Đó là tấm lòng cao cả của Thiên Chúa khi yêu thương loài người.


LM Vincentê Phạm Ngọc Hùng

(Chúa Nhật 24TN 11-09-2022)

Những Điều Kiện Làm Môn Đệ Chúa Giêsu

Trên đường Chúa Giêsu đi Giêrusalem để chịu khổ hình, một đám rất đông dân chúng theo Ngài, tưởng rằng Ngài sẽ thiết lập vương quốc trần thế độc lập ở trần gian. Những người này chưa từng là môn đệ của Chúa Giêsu. Họ theo Ngài vào Giêrusalem để mong sau này có được một địa vị trong vương quốc mới, không còn bị những người La Mã thống trị. Biết được ảo tưởng này của họ, nên Chúa Giêsu nói rất thẳng và rất rõ về ba điều kiện dành cho những ai muốn theo Ngài.

Trước hết họ phải ghét “cha mẹ, vợ con, anh chị em và cả mạng sống mình.” Tất cả các bản văn bằng tiếng Việt đều dùng chữ bỏ thay cho chữ ghét, có thể để nghe cho nhẹ nhàng hơn, nhưng nguyên ngữ Hy Lạp và những bản văn của các ngôn ngữ khác đều dùng chữ ghét. Chữ ghét trong đoạn văn này không mang ý nghĩa tương phản với chữ yêu, nhưng đây là hình thức phóng đại mà những câu thành ngữ thường hay diễn tả để nhấn mạnh ý nghĩa muốn truyền đạt.

Thành ngữ tiếng Việt cũng thường hay dùng cách diễn tả này, chẳng hạn như, “Cắt cổ không bằng đổ rượu,” hay, “Chém cha không bằng pha tiếng.” Dĩ nhiên “cắt cổ” và “chém cha” là hai hành động dã man kinh hoàng, và chúng được đưa vào hai câu thành ngữ để nhấn mạnh đến tầm quan trọng của việc “đổ rượu” và “pha tiếng.” Cũng thế, Chúa Giêsu nói ghét “cha mẹ, vợ con, anh chị em và cả mạng sống mình,” là để nhấn mạnh đến tầm quan trọng của điều kiện làm môn đệ cho Ngài. Lòng khát khao dấn thân đi theo Chúa phải vượt lên trên mọi tình cảm, ngay cả những tình cảm dành cho gia đình, hay cả mạng sống mình.

Điều kiện thứ hai là người môn đệ phải sẵn sàng vác thập giá. Chính Chúa Giêsu đang trên đường đi Giêrusalem để vác thập giá và chịu đóng đanh. Do vậy những người muốn theo Ngài sẽ không đi bất cứ con đường nào khác ngoài con đường thập giá, một con đường dấn thân trọn vẹn. Con đường này hoàn toàn khác với ảo tưởng của đám đông dân chúng đang chờ đợi Ngài. Do vậy Ngài nhấn mạnh thêm, là ai muốn theo Ngài phải suy xét cho kỹ như người xây tháp canh hoặc như ông vua muốn giao tranh trong một trận chiến. Nếu nhận ra mình không đủ khả năng, thì không nên tiếp tục. Tất cả những nông nổi nhất thời, thiếu suy xét kỹ lưỡng, sẽ làm cho những ai muốn theo Ngài dễ dàng bỏ cuộc khi va chạm với thực tế.

Điều kiện sau cùng là phải chấp nhận từ bỏ tất cả để theo Chúa bởi vì người môn đệ chỉ muốn hoàn toàn thuộc về Chúa và Chúa là gia nghiệm duy nhất của cuộc đời họ. Tất cả những giá trị khác ở thế gian chỉ làm cho cuộc sống người môn đệ thêm nặng nề và dễ dàng bị chi phối. Điều kiện này một lần nữa nhấn mạnh đến tinh thần sẵn sàng hy sinh mọi tình cảm với gia đình và ngay cả mạng sống mình.

Xem ra những điều kiện làm người môn đệ cho Chúa quá khó khăn. Không biết rồi ai có thể bước theo Ngài. Tuy nhiên đây cũng không phải là những điều kiện bất khả thi vì trải dài hơn 20 thế kỷ qua, không thời đại nào là không có những con người hy sinh tất cả và ngay cả mạng sống mình để theo Chúa. Họ là những chứng nhân anh hùng khích lệ tinh thần chúng ta thêm mạnh mẽ để thay thế họ làm môn đệ cho Chúa.

LM Vincentê Phạm Ngọc Hùng

(Chúa Nhật 23TN 04-09-2022)

Tinh Thần Khiêm Nhường

Vào thời Chúa Giêsu, người Do Thái đến với những bữa tiệc, đặc biệt là những bữa tiệc lớn, để xác định địa vị của họ ở trong xã hội hơn là ăn uống xã giao. Những chỗ trên cùng trong phòng tiệc thường dành cho những bậc vị vọng và những viên chức lãnh đạo tinh thần. Tuy nhiên chuyện thường xảy ra là có những người ở địa vị nhỏ nhưng lại muốn nâng mình lên để ngồi vào những chỗ quan trọng hơn. Vì thường xuyên chứng kiến những cảnh như vậy đã xảy ra, có lẽ cả trong bữa tiệc được nhắc đến trong bài Tin Mừng hôm nay, nên Chúa Giêsu đã lên tiếng bảo rằng, “Khi có ai mời ngươi dự tiệc cưới, ngươi đừng ngồi vào chỗ nhất.”

Chỗ cao trọng nhất trong bữa tiệc là chỗ nên tránh bởi vì mình không biết còn những nhật vật nào nữa quan trọng hơn sẽ tới sau. Cách tốt nhất là tìm những chỗ càng thấp càng tốt, để chủ nhà đưa mình đến chỗ danh dự, hơn là tự mình đưa lên để rồi bị người ta hạ xuống. Bài đọc một ngày hôm nay cũng nhấn mạnh đến điểm đó: “Càng làm lớn, con càng phải hạ mình trong mọi sự, thì con sẽ được đẹp lòng Chúa.” Trong những giao tiếp hàng ngày, ai cũng quý mến những người biết tự hạ mình xuống, và tránh né những người tìm cách hạ người khác xuống để đưa mình lên. Chính Chúa Giêsu cũng đã nhắc nhở, “Vì hễ ai nhắc mình lên, sẽ phải hạ xuống, và ai hạ mình xuống, sẽ được nhắc lên.”

Song song với bài học dành cho khách dự tiệc, Chúa Giêsu còn chỉ dạy chủ tiệc tinh thần khiêm nhường khi mời khách. Trong xã hội người Do Thái ngày xưa, cũng như trong xã hội chúng ta ngày hôm nay, người ta mời nhau dự tiệc vì những lý do tiêu biểu. Trước hết là để trả nợ. Họ đã mời mình rồi, giờ mình phải mời lại họ. Lý do thứ hai là để lấy lòng những người có quyền thế trong xã hội. Không riêng gì tại Việt Nam, nhưng ngay tại Mỹ, có những người mở tiệc mời những quan chức lớn để có thể để thăng quan tiến chức, công việc làm ăn được dễ dàng hơn, hay cậy nhờ họ bảo kê cho thương vụ bất chính của mình. Lý do thứ ba là để khoe khoang của cải hay sự thành công của mình. Họ đi tìm sự ngưỡng mộ nơi những khách dự tiệc.

Tất cả những cách này đều không phù hợp với tinh thần khiêm nhường Chúa Giêsu chỉ dạy. Những người thực sự có tinh thần khiêm nhường là những người cho đi nhưng không mong báo đáp. Do vậy, Chúa nói, “hãy mời những người nghèo khó tàn tật, què quặt, và đui mù; ông sẽ có phúc, bởi họ không có gì trả lễ.” Cho đi mà vẫn còn mong báo đáp, thì đã mất phần thưởng rồi. Còn những ai cho đi, nhưng không nghĩ đến được báo đáp, thì “sẽ được trả lễ khi những người công chính sống lại.”

Phần lớn chúng ta mong được đền trả ngay ở đời này cho những gì chúng ta cống hiến, nhưng phần thưởng ở thế gian đâu là gì sánh với phần thưởng của Chúa dành cho chúng ta ở đời sau. Đời sống khiêm nhường giúp chúng ta bỏ qua những lợi ích tầm thường, để chỉ hướng về phần thưởng đang đợi chờ chúng ta trên thiên đàng.

LM Vincentê Phạm Ngọc Hùng

(Chúa Nhật 22TN 28-08-2022)

Vào qua Cửa Hẹp


Một trong những quan niệm của người Do Thái ngày xưa, đó là con cháu của Abraham, dân

tộc được Thiên Chúa tuyển chọn, sẽ chắc chắn được thừa hưởng Nước Trời. Còn những người

dân ngoại sẽ bị loại ra ngoài. Do vậy, một câu hỏi đã được đặt ra cho Chúa Giêsu trong bài Tin

Mừng hôm nay, đó là, “Lạy Thầy, phải chăng chỉ có một số ít sẽ được cứu độ?” Câu trả lời của

Chúa chắc chắn đã gây sửng sốt cho nhiều người.

Trước hết Chúa Giêsu bảo rằng được vào Nước Trời không phải là điều đương nhiên, nhưng

phải “cố gắng vào qua cửa hẹp.” Động từ “cố gắng” có nguyên ngữ Hy Lạp là agōnízomai. Từ

chữ này, tiếng Anh có chữ “agony”, có nghĩa là đau đớn. Cố gắng vào Nước Trời không chỉ là

một hành động làm cho có, nhưng phải cố gắng đến độ đau đớn cả thân xác và linh hồn, và đây

là hình ảnh của những ai đang đi vào cửa hẹp. Cánh cửa rộng, ai cũng có thể thong dong bước

qua, nhưng cánh cửa đó sẽ không dẫn đến Nước Trời. Chỉ có những ai thành tâm hãm mình ép

xác bước qua cửa hẹp, họ sẽ đến được với Chúa.

Những người bị loại ra khỏi Nước Trời bắt đầu than van với Thiên Chúa như những người

được nhắc đến trong dụ ngôn, “Chúng tôi đã ăn uống trước mặt Ngài và Ngài đã giảng dạy giữa

các công trường chúng tôi.” Nhiều Kitô hữu cũng đã có chung một suy nghĩ này là, chúng tôi đã

được rửa tội và đi lễ đi nhà thờ cả cuộc đời, không lý gì chúng tôi lại không được vào Nước Trời.

Rất có thể họ được vào Nước Trời, nhưng điều quan trọng là họ đã cố gắng sống đời Kitô hữu

như thế nào.

Cửa Nước Trời không phân biệt giầu nghèo, sang hèn, Công Giáo hay không Công Giáo, Do

Thái hay dân ngoại. Trước mặt Chúa tất cả đều như nhau. Trong bài đọc một hôm nay, Thiên

Chúa đã nói qua tiên tri Isaia điều đó: “Ta đến quy tụ mọi dân tộc và mọi ngôn ngữ.” Ngài không

phân biệt ai và cũng chẳng ưu đãi riêng một dân tộc nào. Ngài muốn quy tụ tất cả vào Nước Trời, và mọi người đều có cơ hội bình đẳng như nhau.

Một điểm quan trọng khác mà dụ ngôn của Chúa Giêsu đã nêu lên, đó là nhiều người xa lạ

được vào Nước Trời, còn một số con cái trong nhà lại bị loại ra ngoài. Ngài nói, “Khi ấy các

ngươi sẽ thấy Abraham, Isaac, Giacob và tất cả các tiên tri ở trong nước Thiên Chúa, còn các

ngươi bị loại ra ngoài.” Một lần nữa Chúa muốn nhấn mạnh đến sự cố gắng của mỗi người, chứ

không phải danh nghĩa hay định kiến mà con người đã tự sắp đặt cho mình.

Chúng ta may mắn được trở nên Kitô hữu và học biết về ý định của Thiên Chúa dành cho

những ai muốn vào Nước Trời. Chúng ta không tự mãn mình là những người đã được rửa tội,

nhưng chúng ta nhờ ơn Chúa Thánh Thần xuống trên chúng ta qua Bí Tích Rửa Tội để chúng ta

thành tâm cố gắng hãm mình ép xác bước qua cửa hẹp dẫn đến nguồn ơn cứu độ.


LM Vincentê Phạm Ngọc Hùng

(Chúa Nhật 21TN 21-08-2022)

Lửa và Chia Rẽ

Suốt một tuần lễ làm việc mệt nhọc, nhiều người mong đến nhà thờ để nghe những lời giảng dạy nhẹ nhàng, đầy yêu thương và an ủi, nhưng bài Tin Mừng hôm nay hoàn toàn ngược lại. Chúa Giêsu bảo, “Thầy đã đến đem lửa xuống thế gian và Thầy mong muốn biết bao cho lửa cháy lên.” Mang lửa xuống thế gian thôi chưa đủ, Ngài nói tiếp: “Các con tưởng Thầy đến để đem sự bình an xuống thế gian ư? Thầy đến để đem sự chia rẽ.” Hai câu nói này có thể gây hoang mang cho nhiều người và đem đến một cái nhìn lệch lạc về Chúa Giêsu. Chúng ta phải hiểu sao cho đúng với hình ảnh Chúa Giêsu là Con Thiên Chúa và là Ông Vua Thái Bình?

Mỗi khi nói đến lửa, chúng ta liên tưởng đến sức tàn phá của chúng. Tại California, năm nào cũng có những trận hỏa hoạn tàn phá rừng, súc vật, tài sản, và ngay cả mạng sống của con người. Khi ngọn lửa được dập tắt, trong nhiều trường hợp người ta chỉ còn thấy tro bụi, kéo theo nhiều thiệt hại và thương vong. Nhiều người liên tưởng tới ngọn lửa này khi nghe Chúa Giêsu nói, Ngài mang lửa xuống thế gian.

Theo William Barclay, một nhà chú giải Thánh Kinh, bảo rằng, trong văn hóa và suy tư của người Do Thái, lửa luôn mang ý nghĩa của việc xét xử. Lửa có khả năng gạn lọc vàng ròng ra khỏi những gì là bợn nhơ bẩn thỉu. Sách Khôn Ngoan có nói, “Chúa đã thử thách các ngài như thử vàng trong lửa” (Kn 3:8). Duy nhất chỉ có Thiên Chúa là ngọn lửa nghiêm minh, toàn năng xét xử những tốt xấu ở thế gian. Chúa Giêsu chính là ngọn lửa đó, từ trời xuống, và Ngài mong muốn cho ngọn lửa bừng lên để xét xử nhân loại và thiêu đốt những hành vi xấu xa của sự dữ. Nếu Chúa là ngọn lửa này thì không ai có thể tránh được sự công minh khi Ngài xét xử.

Mặc dù ngọn lửa của Chúa Giêsu sẽ đốt nóng thế gian, và bị nhiều người chống đối, nhưng rất nhiều người khác đã đón nhận và trở thành những môn đệ nhiệt thành của Chúa Giêsu. Họ đã làm cho lửa của Chúa bừng cháy lên từ trong gia đình ra đến ngoài xã hội. Vì nhiều người đã quen sống với thói hư tật xấu của mình, nên không chấp nhận để cho ngọn lửa của Chúa thanh luyện. Từ đó dẫn đến những tranh cãi và chia rẽ ngay từ trong gia đình như chúng ta nghe trong bài Tin Mừng hôm nay.

Tiên tri Giêrêmia cũng đã phải trải qua những chống đối như thế trong sứ vụ của ông. Ông đã lên án những hành vi tội lỗi từ vua chí dân, và tiên báo sự sụp đổ của Đền Thờ Giêrusalem. Vua quan và người dân Do Thái không chấp nhận những lời tiên tri này và đã ném ông xuống một cái giếng cạn để ông chết đói, nhưng sau đó ông đã được may mắn cứu thoát.

Cuộc sống hiện tại của chúng ta cũng không khá hơn thời đại của Tiên Tri Giêrêmia và thời đại của Chúa Giêsu. Những người trong cùng một gia đình, hội đoàn, đoàn thể vẫn thường có những bất đồng ý kiến về nhiều vấn đề chẳng hạn như: sự sống của thai nhi, đồng tính, chiến tranh, hôn nhân, tôn giáo, và chính trị. Càng tranh cãi, càng đưa đến chia rẽ, hoặc làm cho tình trạng chia rẽ trở nên trầm trọng hơn. Chúng ta phải làm gì? Là những môn đệ của Chúa, chúng ta tiếp tục sống với ngọn lửa Chúa đã mang xuống thế gian này, và hãy để cho ngọn lửa đó theo thời gian hâm nóng thế gian và tẩy trừ mọi bợn nhơ do tội lỗi gây ra.

LM Vincentê Phạm Ngọc Hùng

(Chúa Nhật 20TN 14-08-2022)

Canh Thức và Sẵn Sàng

Nhiều người cho rằng đời sống đạo, hay nói cho chính xác, sự chuẩn bị cho ngày rời bỏ thế gian này sẽ dễ dàng hơn nếu Chúa cho biết chính xác ngày giờ Chúa gọi chúng ta, hay khi nào tận thế sẽ xảy ra. Thực ra đây không phải là lối sống thực tế vì làm như thế xã hội sẽ vô cùng xáo trộn. Nhiều người sẽ ăn ở lăng loàn trác tán, rồi đợi đến gần giờ chết mới bắt đầu hồi tâm, ăn năn hối cải. Không ai có thể tưởng tượng nổi một đời sống sẽ kinh hoàng như thế nào khi phải đối phó với những cảnh cướp của giết người hoành hành khắp mọi nơi. Kẻ mạnh sẽ thắng, và kẻ yếu có thể bị giết chết trước giờ Chúa ấn định cho mình. Nếu biết trước được giờ chết của mình là cách tốt hơn, chắc chắn Thiên Chúa đã cho chúng ta biết.

Bài Tin Mừng hôm nay một lần nữa xác định lời Chúa Giêsu đã phán, là không ai có thể biết được “ngày và giờ đó” (Mt 24:36), và nhắc nhở chúng ta phải luôn canh thức và sẵn sàng. Đây chính là thái độ của người đầy tớ chờ đợi chủ trở về. Anh ta thắt lưng và cầm đèn cháy sáng trong tay. Khi chủ gõ cửa anh, anh mở ngay cho chủ vào. Bài đọc một ngày hôm nay cũng nhắc lại hình ảnh này của người Do Thái trong đêm Vượt Qua. Còn chúng ta, chúng ta muốn Chúa nhìn thấy mình đang canh thức và sẵn sàng như thế nào?

Trước hết chúng ta nên cố gắng hoàn tất công việc của mình. Thiên Chúa tạo dựng và đặt để chúng ta vào trong hoàn cảnh hiện tại để thực hiện sứ vụ Ngài trao ban. Mỗi sứ vụ là một đặc ân và cũng là thách đố kéo dài suốt đời người. Nhiều người may mắn hoàn tất sứ vụ cách tốt đẹp, nhưng nhiều người khác phải bỏ lại dở dang. Tuy nhiên điều Chúa muốn nơi chúng ta, đó là liên lỉ thi hành công việc của mình.

Điểm thứ hai Chúa mong đợi nơi chúng ta, đó là biết làm hòa với tha nhân. Một linh hồn không thể thanh thản ra đi nếu vẫn còn vướng mắc hận thù với những người ở lại. Thánh Phaolô trong thư gửi giáo đoàn Êphêsô nói rằng, “chớ để mặt trời lặn mà cơn giận vẫn còn” (4:26). Thật là đáng tiếc khi ánh mặt trời sau cùng đã tắt rồi mà vẫn chưa làm hòa xong với nhau. Hơn nữa, chúng ta lại không biết được buổi hoàng hôn đó là ngày nào.

Điểm sau cùng Chúa mong đợi nơi chúng ta, đó là hãy làm hòa với Ngài. Nếu không làm hòa với Ngài khi đang còn ở đời này, liệu rồi chuyện gì sẽ xảy ra khi chúng ta đứng trước tòa Chúa ở đời sau. Nếu muốn khẩn cầu ơn Ngài tha thứ, chúng ta nên thực hiện ở đời này. Ở đời sau, chúng ta sẽ không còn đặc ân đó nữa.

Biết được ngày giờ Chúa gọi chúng ta hay khi nào tận thế sẽ xảy ra có lẽ không quan trọng bằng sống trong canh thức và sẵn sàng. Thành tâm chu toàn sứ vụ Chúa trao phó, sống hòa thuận với tha nhân, và trong ân nghĩa với Thiên Chúa chắc chắn sẽ là cách chuẩn bị tốt cho chuyến ra đi sau cùng của chúng ta.

LM Vincentê Phạm Ngọc Hùng

(Chúa Nhật 19TN 07-08-2022)

Hãy Lo Làm Giàu Trước Mặt Chúa

Một trong những bản chất tự nhiên của con người, cách riêng người Việt Nam, là cần kiệm và tích trữ của cải để lo cho con cái hoặc cho tương lai của chính mình. Đó là lý do tại sao nhiều người mở những quỹ tiết kiệm hay quỹ hưu dưỡng để sau này lo cho con cái vào đại học hay cho tuổi già của chính mình. Đây là một việc làm khôn ngoan và cần thiết.

Nhiều người không khỏi ngạc nhiên, tại sao người phú hộ trong bài Tin Mừng cũng làm tương tự như vậy lại bị Chúa Giêsu cho là “kẻ ngu dại.” Vậy ông ta đã ngu dại ở chỗ nào? Trước hết Chúa không lên án ông ta là người có nhiều của cải, và cũng chẳng chỗ nào nói rằng ông ta đã làm ăn bất chính. Có lẽ cái ngu dại của ông ta là ở tại lòng tham, đam mê tích trữ nhiều của cải, mà lại không biết cách gìn giữ cho của cải bị hư mất. Ông ta phá đi những kho lẫm nhỏ và xây những cái lớn hơn “rồi chất tất cả lúa thóc và của cải tôi vào đó.” Những ai đã từng là nhà nông đều biết rằng, lúa thóc không thể để lâu được vì mối mọt sẽ ăn mất. Kho lẫm có to, lúa thóc có nhiều, nhưng không xài tới và không biết cách bảo quản, thì cuối cùng cũng chỉ là hư không.

Một lý do khác đã làm cho nhà phú hộ thành “kẻ ngu dại,” đó là ông không nghĩ đến sự vắn vỏi chóng qua của đời sống con người. Ông chỉ đam mê tích trữ, nhưng không nghĩ đến mình sẽ không thể sống mãi mãi để tiêu dùng cho hết. Nếu may mắn, một người có thể sống lâu trường thọ; còn không thì cái chết có thể đến ở bất cứ tuổi nào. Cho dù đoản thọ hay trường thọ, sẽ có ngày ai cũng phải bỏ lại tất cả để ra đi. Ai sẽ là người thừa hưởng những của cải để lại? Liệu họ có biết trân quý chúng hay không? Có nhớ đến người đã lao nhọc làm ra chúng không? Trong bài đọc một hôm nay, sách Giảng Viên bảo rằng, kẻ này làm lụng vất vả, “rồi phải để sự nghiệp lại cho người ở nhưng không, thì thật là hư không và tai hại lớn lao.” Chúa Giêsu lấy làm tiếc cho những người chỉ biết lo tích trữ của cải ở thế gian nhưng không biết làm giầu trước mặt Chúa.

Nhiều người có thể làm việc miệt mài, một ngày trên mười giờ đồng hồ, kể cả ngày Chúa Nhật, nhưng không thể bỏ ra một giờ để cùng với con cái tới nhà thờ. Nhiều người cho rằng mình vẫn kính thờ Thiên Chúa trên hết mọi sự, nhưng không thể dành thời giờ tới hiệp dâng Thánh Lễ để tạ ơn Chúa đã ban cho có được của ăn của để. Của cải không thể bảo đảm cho chúng ta có được sự sống đời đời. Chỉ khi nào chúng ta biết dùng chúng để làm giàu trước mặt Thiên Chúa, thì chúng ta mới thực sự tích trữ cho mình kho báu ở trên trời.

LM Vincentê Phạm Ngọc Hùng

(Chúa Nhật 18TN 31-07-2022)

Cầu Nguyện Để Hiểu Biết Thêm về Thiên Chúa

Một trong những nhu cầu tự nhiên của con người đó là nhu cầu nói chuyện với người khác và được người khác nói chuyện với mình. Đối với những người thân, chúng ta cần phải có thời gian để chuyện trò với họ để hiểu biết họ hơn và để yêu mến họ hơn. Cầu nguyện cũng thế. Tự bản chất, cầu nguyện là chuyện trò cùng Chúa, không phải để thay đổi thánh ý của Ngài, nhưng là để hiểu biết Chúa hơn và giúp chúng ta thuận theo thánh ý của Ngài. Đây chính là một trong những chủ đề trong các bài đọc Chúa Nhật tuần này.

Trước hết là bài đọc một. Sách Sáng Thế trình thuật câu chuyện Abraham “mặc cả” với Thiên Chúa để giúp cho hai thành Sôđôma và Gômôra có thể thoát được cơn thịnh nộ và sự trừng phạt của Thiên Chúa. Những người dân trong hai thành này làm nhiều sự dữ và ghê tởm trước mặt Thiên Chúa và người ta. Biết trước được ý định của Thiên Chúa là sẽ cho lửa và diêm sinh thiêu hủy hai thành này, Abraham tìm gặp Chúa và “mặc cả” với Ngài. Ông bắt đầu với con số 50 người, “Nếu có năm mươi người công chính trong thành, họ cũng chết chung hay sao?” Từ con số 50, Abraham đã “trả giá” xuống 45, 40, 30, 20, và cuối cùng là 10. Mỗi lần Abraham “trả giá”, Thiên Chúa đều chấp nhận và chiều theo lời kêu xin của ông. Các nhà chú giải Thánh Kinh cho rằng có thể câu chuyện mang tính cách minh họa, không thực sự xảy ra như đã được ghi chép, nhưng qua việc Abraham chuyện trò với Chúa để mặc cả hay trả giá, chúng ta nhận ra được Thiên Chúa là Đấng nhân từ và đầy lòng thương xót, sẵn sàng làm tất cả để che chở cho người lành, nhưng Ngài cũng là một Thiên Chúa không chấp nhận để cho sự dữ lan tràn.

Tiếp tục với chủ đề cầu nguyện, bài Tin Mừng trình thuật Chúa Giêsu dạy cho các môn đệ Kinh Lạy Cha. Một trong những điểm quan trọng mà các nhà chú giải Thánh Kinh muốn nhấn mạnh, đó là Thiên Chúa là “Abba” của chúng ta. “Abba” là danh từ mà người con gọi cha mình. Chữ đồng nghĩa có thể là “Daddy hay Ba ơi.” Chúa Giêsu đã có ý chọn chữ này để tránh chữ “πατέρα – patera,” cũng có nghĩa là cha, vì nó thường được dùng để chỉ các hoàng đế La Mã, mà người dân buộc phải gọi là người cha của dân tộc, một hình ảnh độc tài và tàn bạo trong xã hội. Thiên Chúa là “Abba” mà Chúa Giêsu mạc khải cho các môn đệ trong Kinh Lạy Chúa không thể bị đồng hóa với một hoàng đế La Mã. Ngài là một Abba nhân từ, trung tín, và yêu thương con cái Ngài trong một tương quan mật thiết. Đó là hình ảnh trung thực của Thiên Chúa mà Chúa Giêsu muốn chúng ta có được mỗi khi đọc Kinh Lạy Cha.

Ngài hơn hẳn người bạn bị quấy rầy trong đêm khuya như được Chúa Giêsu kể trong dụ ngôn. Người này dậy lấy bánh cho bạn mình vì sợ bị tiếp tục quấy rầy, nhưng Thiên Chúa là Abba sẽ đáp ứng lời kêu xin của chúng ta, không phải vì Ngài sợ bị quấy rầy, nhưng vì Ngài là Abba trong tương quan mật thiết với chúng ta. Chúa Giêsu còn nhấn mạnh thêm, “Vậy nếu các con là những kẻ gian ác, còn biết cho con cái mình những của tốt, phương chi Cha các con trên trời sẽ ban Thánh Thần cho những kẻ xin Người.”

Mặc dù Thiên Chúa biết rõ mọi nhu cầu của con người, nhưng chúng ta vẫn phải cầu xin, không phải để thay đổi ý định của Thiên Chúa, hoặc nói cho Ngài biết việc cần phải làm, nhưng là để nhận ra con người giới hạn của mình cần đến Thiên Chúa, nhận ra thánh ý của Ngài, và quyết tâm thay đổi cuộc sống của mình để thuận theo ý muốn của Thiên Chúa.

LM Vincentê Phạm Ngọc Hùng

(Chúa Nhật 17TN 24-07-2022)

Tiếp Đón Chúa

Mỗi lần khi nghe những câu chuyện quen thuộc được kể đi kể lại, nhiều người theo thói quen chỉ nghe lại những gì mình đã nghe trước đây, nhưng không để cho những chi tiết khác của câu chuyện đánh động mình hay giúp mình hiểu biết thêm. Ví dụ cụ thể là câu chuyện Tin Mừng Chúa Nhật tuần này. Khi nghe câu đầu, “Khi ấy, Chúa Giêsu vào một làng kia và có một phụ nữ tên là Martha rước Người vào nhà mình,” nhiều người đã nghĩ ngay đến câu kết thúc, “Maria đã chọn phần tốt nhất và sẽ không bị ai lấy mất.” Vì không nghe thêm được những gì ở giữa, nên nhiều người ngồi xuống và chờ đợi một bài giảng, phê phán những ai mải mê lo toan cho cuộc sống vật chất mà quên đi việc cần thiết là lắng nghe lời Chúa. Thực ra đây là điểm quan trọng của bài Tin Mừng, nhưng thỉnh thoảng chúng ta cũng nên khám phá ra những điểm quan trọng khác mà Chúa Giêsu muốn nhắn gửi chúng ta.

Trước hết chúng ta bắt đầu với câu chuyện Cựu Ước nói về ông Abraham tiếp đón ba vị khách lạ. Ba vị khách này được coi là người của Thiên Chúa. Abraham chưa từng gặp họ bao giờ, và họ cũng chẳng có dấu chỉ gì lạ để cho ông biết họ là những người của Thiên Chúa. Họ bất chợt đến nhà ông, nhưng ông đã vội vã tiếp đón họ rất ân cần: ông chạy ra đón họ, lấy nước rửa chân cho họ, lấy bánh mời họ ăn, bắt bê non hảo hạng đãi họ, và đứng hầu cho họ ăn. Nhờ vào tinh thần đón tiếp khách một cách niềm nở và ân cần, Chúa đã ban cho hai ông bà ở tuổi già được sinh con.

Như chúng ta biết, nội dung của bài đọc một và bài Tin Mừng thường có những điểm tương đồng. Điểm nổi bật mà chúng ta có thể dễ dàng nhận ra từ câu chuyện của Abraham và hai chị em Martha và Maria, đó là tinh thần hiếu khách. Theo Thánh Luca kể lại, khi Chúa Giêsu mới vào “một làng kia,” điều này có nghĩa là Ngài chưa tới nhà của Martha và Maria, Ngài đã được Martha ra “rước Người vào nhà mình.” Martha đã không đợi Chúa Giêsu đến trước cửa nhà gõ cửa rồi mới ra tiếp đón Chúa, nhưng chị đã ra khỏi nhà chờ đợi Chúa, và khi gặp được Ngài, chị đã rước Ngài vào nhà Mình. Việc tiếp đón Chúa đã không dừng ở đó. Chị giống như tổ phụ của chị là Abraham, đã hết mình chuẩn bị bữa ăn để tiếp đãi khách, đến độ “lo lắng và bối rối.” Mặc dù chị đã không chọn phần tốt hơn, nhưng công trạng của chị quả là không nhỏ.

Riêng về Maria, chị không hẳn là người chỉ thụ động ngồi nghe Chúa nói, nhưng việc chị ở bên cạnh Chúa cũng nói lên tinh thần hiếu khách, ân cần tiếp đón Ngài. Chúa đến với gia đình chị, chị không để Chúa kêu chị ra ngồi lắng nghe Ngài, nhưng chị đã đến ngồi dưới chân, vừa lắng nghe và vừa hầu chuyện Chúa như Abraham đứng hầu ba vị khách của mình.

Song song với việc lắng nghe lời Chúa, chúng ta thấy các bài đọc còn nhắc nhở chúng ta đến tinh thần hiếu khách, đặc biệt là tiếp đón Chúa. Martha và Maria đã dễ dàng nhận ra Chúa và tiếp đón Ngài, nhưng trong trường hợp của Abraham, người của Thiên Chúa ẩn hiện nơi những người hoàn toàn xa lạ. Vậy chúng ta hãy thể hiện tinh thần hiếu khách, không những đối với người quen biết, nhưng còn ngay cả với người xa lạ vì rất có thể chính Chúa đã gửi họ đến với chúng ta.

LM Vincentê Phạm Ngọc Hùng

(Chúa Nhật 16TN 17-07-2022)

Ai Là Anh Em của Tôi?

Trong ba năm rao giảng công khai, Chúa Giêsu thường xuyên bị các luật sĩ và Biệt Phái chất vấn Ngài nhằm mục đích hạ bệ Ngài trước công chúng. Ví dụ điển hình là câu chuyện trong bài Tin Mừng hôm nay. Người thông luật đã không chọn lúc vắng vẻ để đặt câu hỏi với Chúa Giêsu, nhưng anh ta đã chọn chỗ đông người. Anh ta không hỏi để học, nhưng đoạn Tin Mừng ghi rõ, “anh ta hỏi thử người,” và dĩ nhiên mục đích của anh là để công kích uy tín của Chúa Giêsu.

Trước hết câu hỏi anh ta đặt ra, “Thưa Thầy, tôi phải làm gì để được sự sống đời đời,” là một vấn đề nan giải từ lý thuyết ra đến thực hành, và vấn đề này đã gây ra nhiều tranh cãi cho những trường phái rabbi thời bấy giờ. Với câu hỏi này, anh đinh ninh rằng Chúa Giêsu sẽ bị lúng túng, nhưng ngược lại người đã bị lúng túng chính là anh khi nghe Chúa trả lời chính xác, “Ngươi hãy yêu mến Chúa là Thiên Chúa ngươi hết lòng, hết linh hồn, hết sức và hết trí khôn ngươi, và hãy thương mến anh em như chính mình.” Vì là một người thông luật, anh đã không dễ dàng bỏ cuộc. Anh đặt ra cho Chúa một câu hỏi khó hơn, “Nhưng ai là anh em của tôi?”

Theo văn hóa thời bấy giờ, “anh em của tôi” chỉ giới hạn trong cộng đồng người Do Thái mà thôi. Do vậy, nếu Chúa bảo rằng chỉ yêu những người Do Thái như nội dung của câu hỏi, thì đám thông luật sẽ coi thường Chúa vì giáo lý của Ngài không quan tâm đến những người khác. Còn nếu Chúa bảo rằng “anh em của tôi” gồm tất cả mọi người, thì đám đông dân chúng sẽ phản đối vì họ cho rằng chỉ có những người Do Thái là anh chị em của nhau; còn những người khác, cách riêng là những người dân ngoại, thì không xứng đáng là anh em của họ và không có quyền được thừa hưởng sự sống đời đời như câu hỏi người thông luật đã đặt ra.

Trong lúc tưởng chừng Chúa Giêsu đã bị đánh bại, Ngài đã đảo ngược vấn đề. Thay vì trả lời câu hỏi của người thông luật, Chúa Giêsu đã kể dụ ngôn Người Samaritanô Nhân Lành và để cho người thông luật trả lời câu hỏi hóc búa của chính anh ta.

Dụ ngôn Chúa kể không có gì xa lạ với đám đông vì nó thường xuyên xảy ra trên đoạn đường này, nhưng điều làm mọi người suy tư đó là sự tương phản giữa người Samaritanô và hai thầy tư tế và trợ tế phục vụ trong đền thờ. Theo luật buộc của đền thờ, hai thầy này không được phép đụng vào xác chết. Nếu nạn nhân thực sự đã chết và hai thầy đụng vào thì phải được thanh tẩy cẩn thận trước khi tiếp tục công việc thờ tự của mình.

Riêng người Samaritanô, nhiều người cho rằng anh ta là một người dân ngoại, nên không bị ràng buộc bởi luật lệ, nên dễ dàng cho anh ta giúp đỡ nạn nhân. Thực ra theo những chi tiết của dụ ngôn, Chúa Giêsu muốn nhấn mạnh người Samaritanô giúp người bị nạn không phải vì anh ta chẳng có gì để mất nhưng vì anh ta là một người tốt. Trong khi hai thầy tư tế và trợ tế bỏ đi, thì anh này đã “động lòng thương.” Phúc Âm đã dùng cùng chữ “động lòng thương – ἐσπλαγχνίσθη” cho nhiều câu chuyện khác nhau, chẳng hạn như Chúa Giêsu đã nhiều lần “động lòng thương” khi thấy dân chúng tất tưởi bơ vơ (Mt 9:36), hoặc thương cho bà góa thành Nain mất đi người con trai (Lk 7:13). Hành động của anh ta đã diễn tả cách chân thành lòng tốt của anh ta, chẳng hạn như băng bó vết thương nạn nhân, đỡ anh ta lên con lừa của chính mình, đưa về quán trọ, và sẵn sàng trả hết mọi phí tổn. Anh ta có lòng thương xót chân thành.

Khi bắt đầu câu chuyện, người thông luật đã nhất quyết phải hạ bệ cho bằng được Chúa Giêsu, nhưng kết quả anh lại là người đã được Chúa nhắc nhở, “Hãy đi và làm như vậy.” Chúa không xét đoán tính xấu của anh ta, nhưng Ngài muốn giúp anh ta trở nên con người tốt như người Samaritanô, biết “động lòng thương” những người khác trong hoàn cảnh khó khăn, không phân biệt giai cấp, sắc tộc, tôn giáo, hay quan điểm chính trị. Đây mới thực sự là “yêu thương nhau như thầy đã yêu thương các con.”

LM Vincentê Phạm Ngọc Hùng

(Chúa Nhật 15TN 10-07-2022)

Dưới đây là bản tuyên bố từ Giáo Phận Orange liên quan đến các tin tức báo cáo về bản dự thảo ý kiến ​​của Thẩm Phán Samuel A. Alito Jr. về việc lật ngược Phán Quyết Roe v. Wade


Garden Grove, California (ngày 3 tháng 5 năm 2022) – Chúng tôi, Giáo Phận Công Giáo Rôma tại Orange, nghĩ rằng điều quan trọng là phải để cho Tối Cao Pháp Viện Hoa Kỳ được tự do phát biểu ý kiến của mình, ​​và do đó chúng tôi đang chờ quyết định chính thức của tòa án để đưa ra bình luận cụ thể.

Tuy nhiên, xem xét tính khả thi có thể lật ngược phán quyết Roe vs Wade, chúng tôi nhắc lại tuyên bố của Hội Đồng Công Giáo California, ngày 20 tháng 1, mang tựa đề “Các Đức Giám Mục California Cam Kết Làm Việc vì Tương Lai Tốt Đẹp Hơn cho Phụ Nữ, Trẻ Em và Gia Đình trong Tiểu Bang California.”

Tại thời điểm quan trọng này, chúng tôi cam kết hướng đến một viễn tượng cho California, đó là trân trọng phụ nữ, mang đến cho họ sự hỗ trợ bảo đảm cho cuộc sống, và các nguồn tài trợ thiết thực để tất cả các gia đình có thể phát triển, và không để một phụ nữ nào cảm thấy bị bế tắc khi phải đi đến quyết định thảm hại là kết liễu một sinh mạng bằng cách phá thai.

Cách đây không lâu, chúng tôi đã ghi nhận rằng, để ứng phó với những nỗ lực mở rộng phá thai ở California, nhiều người Công Giáo ở tiểu bang chúng ta đã và đang thực hiện viễn tượng bảo vệ sự sống thông qua những nỗ lực không mệt mỏi của họ tại các cơ sở nuôi dưỡng các thai phụ, phòng khám bệnh, các mục vụ tại giáo xứ, kho phân phát thực phẩm, hỗ trợ tài chính, các lớp học về nuôi dạy con cái, nâng cao nhận thức về bạo lực gia đình và hỗ trợ di dân. Chúng ta có được những điều này là nhờ sự tham gia của cộng đồng và tinh thần hiệp nhất Thánh Thể.

Tuy nhiên, chúng ta vẫn còn phải làm nhiều hơn nữa. Hôm nay, chúng tôi lập lại lời kêu gọi tới tất cả những người Công Giáo, và thỉnh cầu những người có niềm tin và lòng thiện chí cùng cầu nguyện, học hỏi và ủng hộ các việc làm và chính sách dẫn đến tương lai tốt đẹp hơn cho phụ nữ, trẻ em và các gia đình ở California.

-Đức Giám mục Kevin Vann, JCD, D.D.

-Đức Giám mục Thành Thái Nguyễn, D.D.

-Đức Giám mục Timothy Freyer, D.D.