trung tâm công giáo việt nam

GIÁO PHẬN ORANGE, CALIFORNIA, USA

Linh mục Giám Đốc: cha Vincenté Phạm Ngọc Hùng

Linh mục Phụ Tá: cha Giuse Nguyễn Đức Dũng


Canh Thức và Sẵn Sàng

Nhiều người cho rằng đời sống đạo, hay nói cho chính xác, sự chuẩn bị cho ngày rời bỏ thế gian này sẽ dễ dàng hơn nếu Chúa cho biết chính xác ngày giờ Chúa gọi chúng ta, hay khi nào tận thế sẽ xảy ra. Thực ra đây không phải là lối sống thực tế vì làm như thế xã hội sẽ vô cùng xáo trộn. Nhiều người sẽ ăn ở lăng loàn trác tán, rồi đợi đến gần giờ chết mới bắt đầu hồi tâm, ăn năn hối cải. Không ai có thể tưởng tượng nổi một đời sống sẽ kinh hoàng như thế nào khi phải đối phó với những cảnh cướp của giết người hoành hành khắp mọi nơi. Kẻ mạnh sẽ thắng, và kẻ yếu có thể bị giết chết trước giờ Chúa ấn định cho mình. Nếu biết trước được giờ chết của mình là cách tốt hơn, chắc chắn Thiên Chúa đã cho chúng ta biết.

Bài Tin Mừng hôm nay một lần nữa xác định lời Chúa Giêsu đã phán, là không ai có thể biết được “ngày và giờ đó” (Mt 24:36), và nhắc nhở chúng ta phải luôn canh thức và sẵn sàng. Đây chính là thái độ của người đầy tớ chờ đợi chủ trở về. Anh ta thắt lưng và cầm đèn cháy sáng trong tay. Khi chủ gõ cửa anh, anh mở ngay cho chủ vào. Bài đọc một ngày hôm nay cũng nhắc lại hình ảnh này của người Do Thái trong đêm Vượt Qua. Còn chúng ta, chúng ta muốn Chúa nhìn thấy mình đang canh thức và sẵn sàng như thế nào?

Trước hết chúng ta nên cố gắng hoàn tất công việc của mình. Thiên Chúa tạo dựng và đặt để chúng ta vào trong hoàn cảnh hiện tại để thực hiện sứ vụ Ngài trao ban. Mỗi sứ vụ là một đặc ân và cũng là thách đố kéo dài suốt đời người. Nhiều người may mắn hoàn tất sứ vụ cách tốt đẹp, nhưng nhiều người khác phải bỏ lại dở dang. Tuy nhiên điều Chúa muốn nơi chúng ta, đó là liên lỉ thi hành công việc của mình.

Điểm thứ hai Chúa mong đợi nơi chúng ta, đó là biết làm hòa với tha nhân. Một linh hồn không thể thanh thản ra đi nếu vẫn còn vướng mắc hận thù với những người ở lại. Thánh Phaolô trong thư gửi giáo đoàn Êphêsô nói rằng, “chớ để mặt trời lặn mà cơn giận vẫn còn” (4:26). Thật là đáng tiếc khi ánh mặt trời sau cùng đã tắt rồi mà vẫn chưa làm hòa xong với nhau. Hơn nữa, chúng ta lại không biết được buổi hoàng hôn đó là ngày nào.

Điểm sau cùng Chúa mong đợi nơi chúng ta, đó là hãy làm hòa với Ngài. Nếu không làm hòa với Ngài khi đang còn ở đời này, liệu rồi chuyện gì sẽ xảy ra khi chúng ta đứng trước tòa Chúa ở đời sau. Nếu muốn khẩn cầu ơn Ngài tha thứ, chúng ta nên thực hiện ở đời này. Ở đời sau, chúng ta sẽ không còn đặc ân đó nữa.

Biết được ngày giờ Chúa gọi chúng ta hay khi nào tận thế sẽ xảy ra có lẽ không quan trọng bằng sống trong canh thức và sẵn sàng. Thành tâm chu toàn sứ vụ Chúa trao phó, sống hòa thuận với tha nhân, và trong ân nghĩa với Thiên Chúa chắc chắn sẽ là cách chuẩn bị tốt cho chuyến ra đi sau cùng của chúng ta.

LM Vincentê Phạm Ngọc Hùng

(Chúa Nhật 19TN 07-08-2022)

Hãy Lo Làm Giàu Trước Mặt Chúa

Một trong những bản chất tự nhiên của con người, cách riêng người Việt Nam, là cần kiệm và tích trữ của cải để lo cho con cái hoặc cho tương lai của chính mình. Đó là lý do tại sao nhiều người mở những quỹ tiết kiệm hay quỹ hưu dưỡng để sau này lo cho con cái vào đại học hay cho tuổi già của chính mình. Đây là một việc làm khôn ngoan và cần thiết.

Nhiều người không khỏi ngạc nhiên, tại sao người phú hộ trong bài Tin Mừng cũng làm tương tự như vậy lại bị Chúa Giêsu cho là “kẻ ngu dại.” Vậy ông ta đã ngu dại ở chỗ nào? Trước hết Chúa không lên án ông ta là người có nhiều của cải, và cũng chẳng chỗ nào nói rằng ông ta đã làm ăn bất chính. Có lẽ cái ngu dại của ông ta là ở tại lòng tham, đam mê tích trữ nhiều của cải, mà lại không biết cách gìn giữ cho của cải bị hư mất. Ông ta phá đi những kho lẫm nhỏ và xây những cái lớn hơn “rồi chất tất cả lúa thóc và của cải tôi vào đó.” Những ai đã từng là nhà nông đều biết rằng, lúa thóc không thể để lâu được vì mối mọt sẽ ăn mất. Kho lẫm có to, lúa thóc có nhiều, nhưng không xài tới và không biết cách bảo quản, thì cuối cùng cũng chỉ là hư không.

Một lý do khác đã làm cho nhà phú hộ thành “kẻ ngu dại,” đó là ông không nghĩ đến sự vắn vỏi chóng qua của đời sống con người. Ông chỉ đam mê tích trữ, nhưng không nghĩ đến mình sẽ không thể sống mãi mãi để tiêu dùng cho hết. Nếu may mắn, một người có thể sống lâu trường thọ; còn không thì cái chết có thể đến ở bất cứ tuổi nào. Cho dù đoản thọ hay trường thọ, sẽ có ngày ai cũng phải bỏ lại tất cả để ra đi. Ai sẽ là người thừa hưởng những của cải để lại? Liệu họ có biết trân quý chúng hay không? Có nhớ đến người đã lao nhọc làm ra chúng không? Trong bài đọc một hôm nay, sách Giảng Viên bảo rằng, kẻ này làm lụng vất vả, “rồi phải để sự nghiệp lại cho người ở nhưng không, thì thật là hư không và tai hại lớn lao.” Chúa Giêsu lấy làm tiếc cho những người chỉ biết lo tích trữ của cải ở thế gian nhưng không biết làm giầu trước mặt Chúa.

Nhiều người có thể làm việc miệt mài, một ngày trên mười giờ đồng hồ, kể cả ngày Chúa Nhật, nhưng không thể bỏ ra một giờ để cùng với con cái tới nhà thờ. Nhiều người cho rằng mình vẫn kính thờ Thiên Chúa trên hết mọi sự, nhưng không thể dành thời giờ tới hiệp dâng Thánh Lễ để tạ ơn Chúa đã ban cho có được của ăn của để. Của cải không thể bảo đảm cho chúng ta có được sự sống đời đời. Chỉ khi nào chúng ta biết dùng chúng để làm giàu trước mặt Thiên Chúa, thì chúng ta mới thực sự tích trữ cho mình kho báu ở trên trời.

LM Vincentê Phạm Ngọc Hùng

(Chúa Nhật 18TN 31-07-2022)

Cầu Nguyện Để Hiểu Biết Thêm về Thiên Chúa

Một trong những nhu cầu tự nhiên của con người đó là nhu cầu nói chuyện với người khác và được người khác nói chuyện với mình. Đối với những người thân, chúng ta cần phải có thời gian để chuyện trò với họ để hiểu biết họ hơn và để yêu mến họ hơn. Cầu nguyện cũng thế. Tự bản chất, cầu nguyện là chuyện trò cùng Chúa, không phải để thay đổi thánh ý của Ngài, nhưng là để hiểu biết Chúa hơn và giúp chúng ta thuận theo thánh ý của Ngài. Đây chính là một trong những chủ đề trong các bài đọc Chúa Nhật tuần này.

Trước hết là bài đọc một. Sách Sáng Thế trình thuật câu chuyện Abraham “mặc cả” với Thiên Chúa để giúp cho hai thành Sôđôma và Gômôra có thể thoát được cơn thịnh nộ và sự trừng phạt của Thiên Chúa. Những người dân trong hai thành này làm nhiều sự dữ và ghê tởm trước mặt Thiên Chúa và người ta. Biết trước được ý định của Thiên Chúa là sẽ cho lửa và diêm sinh thiêu hủy hai thành này, Abraham tìm gặp Chúa và “mặc cả” với Ngài. Ông bắt đầu với con số 50 người, “Nếu có năm mươi người công chính trong thành, họ cũng chết chung hay sao?” Từ con số 50, Abraham đã “trả giá” xuống 45, 40, 30, 20, và cuối cùng là 10. Mỗi lần Abraham “trả giá”, Thiên Chúa đều chấp nhận và chiều theo lời kêu xin của ông. Các nhà chú giải Thánh Kinh cho rằng có thể câu chuyện mang tính cách minh họa, không thực sự xảy ra như đã được ghi chép, nhưng qua việc Abraham chuyện trò với Chúa để mặc cả hay trả giá, chúng ta nhận ra được Thiên Chúa là Đấng nhân từ và đầy lòng thương xót, sẵn sàng làm tất cả để che chở cho người lành, nhưng Ngài cũng là một Thiên Chúa không chấp nhận để cho sự dữ lan tràn.

Tiếp tục với chủ đề cầu nguyện, bài Tin Mừng trình thuật Chúa Giêsu dạy cho các môn đệ Kinh Lạy Cha. Một trong những điểm quan trọng mà các nhà chú giải Thánh Kinh muốn nhấn mạnh, đó là Thiên Chúa là “Abba” của chúng ta. “Abba” là danh từ mà người con gọi cha mình. Chữ đồng nghĩa có thể là “Daddy hay Ba ơi.” Chúa Giêsu đã có ý chọn chữ này để tránh chữ “πατέρα – patera,” cũng có nghĩa là cha, vì nó thường được dùng để chỉ các hoàng đế La Mã, mà người dân buộc phải gọi là người cha của dân tộc, một hình ảnh độc tài và tàn bạo trong xã hội. Thiên Chúa là “Abba” mà Chúa Giêsu mạc khải cho các môn đệ trong Kinh Lạy Chúa không thể bị đồng hóa với một hoàng đế La Mã. Ngài là một Abba nhân từ, trung tín, và yêu thương con cái Ngài trong một tương quan mật thiết. Đó là hình ảnh trung thực của Thiên Chúa mà Chúa Giêsu muốn chúng ta có được mỗi khi đọc Kinh Lạy Cha.

Ngài hơn hẳn người bạn bị quấy rầy trong đêm khuya như được Chúa Giêsu kể trong dụ ngôn. Người này dậy lấy bánh cho bạn mình vì sợ bị tiếp tục quấy rầy, nhưng Thiên Chúa là Abba sẽ đáp ứng lời kêu xin của chúng ta, không phải vì Ngài sợ bị quấy rầy, nhưng vì Ngài là Abba trong tương quan mật thiết với chúng ta. Chúa Giêsu còn nhấn mạnh thêm, “Vậy nếu các con là những kẻ gian ác, còn biết cho con cái mình những của tốt, phương chi Cha các con trên trời sẽ ban Thánh Thần cho những kẻ xin Người.”

Mặc dù Thiên Chúa biết rõ mọi nhu cầu của con người, nhưng chúng ta vẫn phải cầu xin, không phải để thay đổi ý định của Thiên Chúa, hoặc nói cho Ngài biết việc cần phải làm, nhưng là để nhận ra con người giới hạn của mình cần đến Thiên Chúa, nhận ra thánh ý của Ngài, và quyết tâm thay đổi cuộc sống của mình để thuận theo ý muốn của Thiên Chúa.

LM Vincentê Phạm Ngọc Hùng

(Chúa Nhật 17TN 24-07-2022)

Tiếp Đón Chúa

Mỗi lần khi nghe những câu chuyện quen thuộc được kể đi kể lại, nhiều người theo thói quen chỉ nghe lại những gì mình đã nghe trước đây, nhưng không để cho những chi tiết khác của câu chuyện đánh động mình hay giúp mình hiểu biết thêm. Ví dụ cụ thể là câu chuyện Tin Mừng Chúa Nhật tuần này. Khi nghe câu đầu, “Khi ấy, Chúa Giêsu vào một làng kia và có một phụ nữ tên là Martha rước Người vào nhà mình,” nhiều người đã nghĩ ngay đến câu kết thúc, “Maria đã chọn phần tốt nhất và sẽ không bị ai lấy mất.” Vì không nghe thêm được những gì ở giữa, nên nhiều người ngồi xuống và chờ đợi một bài giảng, phê phán những ai mải mê lo toan cho cuộc sống vật chất mà quên đi việc cần thiết là lắng nghe lời Chúa. Thực ra đây là điểm quan trọng của bài Tin Mừng, nhưng thỉnh thoảng chúng ta cũng nên khám phá ra những điểm quan trọng khác mà Chúa Giêsu muốn nhắn gửi chúng ta.

Trước hết chúng ta bắt đầu với câu chuyện Cựu Ước nói về ông Abraham tiếp đón ba vị khách lạ. Ba vị khách này được coi là người của Thiên Chúa. Abraham chưa từng gặp họ bao giờ, và họ cũng chẳng có dấu chỉ gì lạ để cho ông biết họ là những người của Thiên Chúa. Họ bất chợt đến nhà ông, nhưng ông đã vội vã tiếp đón họ rất ân cần: ông chạy ra đón họ, lấy nước rửa chân cho họ, lấy bánh mời họ ăn, bắt bê non hảo hạng đãi họ, và đứng hầu cho họ ăn. Nhờ vào tinh thần đón tiếp khách một cách niềm nở và ân cần, Chúa đã ban cho hai ông bà ở tuổi già được sinh con.

Như chúng ta biết, nội dung của bài đọc một và bài Tin Mừng thường có những điểm tương đồng. Điểm nổi bật mà chúng ta có thể dễ dàng nhận ra từ câu chuyện của Abraham và hai chị em Martha và Maria, đó là tinh thần hiếu khách. Theo Thánh Luca kể lại, khi Chúa Giêsu mới vào “một làng kia,” điều này có nghĩa là Ngài chưa tới nhà của Martha và Maria, Ngài đã được Martha ra “rước Người vào nhà mình.” Martha đã không đợi Chúa Giêsu đến trước cửa nhà gõ cửa rồi mới ra tiếp đón Chúa, nhưng chị đã ra khỏi nhà chờ đợi Chúa, và khi gặp được Ngài, chị đã rước Ngài vào nhà Mình. Việc tiếp đón Chúa đã không dừng ở đó. Chị giống như tổ phụ của chị là Abraham, đã hết mình chuẩn bị bữa ăn để tiếp đãi khách, đến độ “lo lắng và bối rối.” Mặc dù chị đã không chọn phần tốt hơn, nhưng công trạng của chị quả là không nhỏ.

Riêng về Maria, chị không hẳn là người chỉ thụ động ngồi nghe Chúa nói, nhưng việc chị ở bên cạnh Chúa cũng nói lên tinh thần hiếu khách, ân cần tiếp đón Ngài. Chúa đến với gia đình chị, chị không để Chúa kêu chị ra ngồi lắng nghe Ngài, nhưng chị đã đến ngồi dưới chân, vừa lắng nghe và vừa hầu chuyện Chúa như Abraham đứng hầu ba vị khách của mình.

Song song với việc lắng nghe lời Chúa, chúng ta thấy các bài đọc còn nhắc nhở chúng ta đến tinh thần hiếu khách, đặc biệt là tiếp đón Chúa. Martha và Maria đã dễ dàng nhận ra Chúa và tiếp đón Ngài, nhưng trong trường hợp của Abraham, người của Thiên Chúa ẩn hiện nơi những người hoàn toàn xa lạ. Vậy chúng ta hãy thể hiện tinh thần hiếu khách, không những đối với người quen biết, nhưng còn ngay cả với người xa lạ vì rất có thể chính Chúa đã gửi họ đến với chúng ta.

LM Vincentê Phạm Ngọc Hùng

(Chúa Nhật 16TN 17-07-2022)

Ai Là Anh Em của Tôi?

Trong ba năm rao giảng công khai, Chúa Giêsu thường xuyên bị các luật sĩ và Biệt Phái chất vấn Ngài nhằm mục đích hạ bệ Ngài trước công chúng. Ví dụ điển hình là câu chuyện trong bài Tin Mừng hôm nay. Người thông luật đã không chọn lúc vắng vẻ để đặt câu hỏi với Chúa Giêsu, nhưng anh ta đã chọn chỗ đông người. Anh ta không hỏi để học, nhưng đoạn Tin Mừng ghi rõ, “anh ta hỏi thử người,” và dĩ nhiên mục đích của anh là để công kích uy tín của Chúa Giêsu.

Trước hết câu hỏi anh ta đặt ra, “Thưa Thầy, tôi phải làm gì để được sự sống đời đời,” là một vấn đề nan giải từ lý thuyết ra đến thực hành, và vấn đề này đã gây ra nhiều tranh cãi cho những trường phái rabbi thời bấy giờ. Với câu hỏi này, anh đinh ninh rằng Chúa Giêsu sẽ bị lúng túng, nhưng ngược lại người đã bị lúng túng chính là anh khi nghe Chúa trả lời chính xác, “Ngươi hãy yêu mến Chúa là Thiên Chúa ngươi hết lòng, hết linh hồn, hết sức và hết trí khôn ngươi, và hãy thương mến anh em như chính mình.” Vì là một người thông luật, anh đã không dễ dàng bỏ cuộc. Anh đặt ra cho Chúa một câu hỏi khó hơn, “Nhưng ai là anh em của tôi?”

Theo văn hóa thời bấy giờ, “anh em của tôi” chỉ giới hạn trong cộng đồng người Do Thái mà thôi. Do vậy, nếu Chúa bảo rằng chỉ yêu những người Do Thái như nội dung của câu hỏi, thì đám thông luật sẽ coi thường Chúa vì giáo lý của Ngài không quan tâm đến những người khác. Còn nếu Chúa bảo rằng “anh em của tôi” gồm tất cả mọi người, thì đám đông dân chúng sẽ phản đối vì họ cho rằng chỉ có những người Do Thái là anh chị em của nhau; còn những người khác, cách riêng là những người dân ngoại, thì không xứng đáng là anh em của họ và không có quyền được thừa hưởng sự sống đời đời như câu hỏi người thông luật đã đặt ra.

Trong lúc tưởng chừng Chúa Giêsu đã bị đánh bại, Ngài đã đảo ngược vấn đề. Thay vì trả lời câu hỏi của người thông luật, Chúa Giêsu đã kể dụ ngôn Người Samaritanô Nhân Lành và để cho người thông luật trả lời câu hỏi hóc búa của chính anh ta.

Dụ ngôn Chúa kể không có gì xa lạ với đám đông vì nó thường xuyên xảy ra trên đoạn đường này, nhưng điều làm mọi người suy tư đó là sự tương phản giữa người Samaritanô và hai thầy tư tế và trợ tế phục vụ trong đền thờ. Theo luật buộc của đền thờ, hai thầy này không được phép đụng vào xác chết. Nếu nạn nhân thực sự đã chết và hai thầy đụng vào thì phải được thanh tẩy cẩn thận trước khi tiếp tục công việc thờ tự của mình.

Riêng người Samaritanô, nhiều người cho rằng anh ta là một người dân ngoại, nên không bị ràng buộc bởi luật lệ, nên dễ dàng cho anh ta giúp đỡ nạn nhân. Thực ra theo những chi tiết của dụ ngôn, Chúa Giêsu muốn nhấn mạnh người Samaritanô giúp người bị nạn không phải vì anh ta chẳng có gì để mất nhưng vì anh ta là một người tốt. Trong khi hai thầy tư tế và trợ tế bỏ đi, thì anh này đã “động lòng thương.” Phúc Âm đã dùng cùng chữ “động lòng thương – ἐσπλαγχνίσθη” cho nhiều câu chuyện khác nhau, chẳng hạn như Chúa Giêsu đã nhiều lần “động lòng thương” khi thấy dân chúng tất tưởi bơ vơ (Mt 9:36), hoặc thương cho bà góa thành Nain mất đi người con trai (Lk 7:13). Hành động của anh ta đã diễn tả cách chân thành lòng tốt của anh ta, chẳng hạn như băng bó vết thương nạn nhân, đỡ anh ta lên con lừa của chính mình, đưa về quán trọ, và sẵn sàng trả hết mọi phí tổn. Anh ta có lòng thương xót chân thành.

Khi bắt đầu câu chuyện, người thông luật đã nhất quyết phải hạ bệ cho bằng được Chúa Giêsu, nhưng kết quả anh lại là người đã được Chúa nhắc nhở, “Hãy đi và làm như vậy.” Chúa không xét đoán tính xấu của anh ta, nhưng Ngài muốn giúp anh ta trở nên con người tốt như người Samaritanô, biết “động lòng thương” những người khác trong hoàn cảnh khó khăn, không phân biệt giai cấp, sắc tộc, tôn giáo, hay quan điểm chính trị. Đây mới thực sự là “yêu thương nhau như thầy đã yêu thương các con.”

LM Vincentê Phạm Ngọc Hùng

(Chúa Nhật 15TN 10-07-2022)

Dưới đây là bản tuyên bố từ Giáo Phận Orange liên quan đến các tin tức báo cáo về bản dự thảo ý kiến ​​của Thẩm Phán Samuel A. Alito Jr. về việc lật ngược Phán Quyết Roe v. Wade


Garden Grove, California (ngày 3 tháng 5 năm 2022) – Chúng tôi, Giáo Phận Công Giáo Rôma tại Orange, nghĩ rằng điều quan trọng là phải để cho Tối Cao Pháp Viện Hoa Kỳ được tự do phát biểu ý kiến của mình, ​​và do đó chúng tôi đang chờ quyết định chính thức của tòa án để đưa ra bình luận cụ thể.

Tuy nhiên, xem xét tính khả thi có thể lật ngược phán quyết Roe vs Wade, chúng tôi nhắc lại tuyên bố của Hội Đồng Công Giáo California, ngày 20 tháng 1, mang tựa đề “Các Đức Giám Mục California Cam Kết Làm Việc vì Tương Lai Tốt Đẹp Hơn cho Phụ Nữ, Trẻ Em và Gia Đình trong Tiểu Bang California.”

Tại thời điểm quan trọng này, chúng tôi cam kết hướng đến một viễn tượng cho California, đó là trân trọng phụ nữ, mang đến cho họ sự hỗ trợ bảo đảm cho cuộc sống, và các nguồn tài trợ thiết thực để tất cả các gia đình có thể phát triển, và không để một phụ nữ nào cảm thấy bị bế tắc khi phải đi đến quyết định thảm hại là kết liễu một sinh mạng bằng cách phá thai.

Cách đây không lâu, chúng tôi đã ghi nhận rằng, để ứng phó với những nỗ lực mở rộng phá thai ở California, nhiều người Công Giáo ở tiểu bang chúng ta đã và đang thực hiện viễn tượng bảo vệ sự sống thông qua những nỗ lực không mệt mỏi của họ tại các cơ sở nuôi dưỡng các thai phụ, phòng khám bệnh, các mục vụ tại giáo xứ, kho phân phát thực phẩm, hỗ trợ tài chính, các lớp học về nuôi dạy con cái, nâng cao nhận thức về bạo lực gia đình và hỗ trợ di dân. Chúng ta có được những điều này là nhờ sự tham gia của cộng đồng và tinh thần hiệp nhất Thánh Thể.

Tuy nhiên, chúng ta vẫn còn phải làm nhiều hơn nữa. Hôm nay, chúng tôi lập lại lời kêu gọi tới tất cả những người Công Giáo, và thỉnh cầu những người có niềm tin và lòng thiện chí cùng cầu nguyện, học hỏi và ủng hộ các việc làm và chính sách dẫn đến tương lai tốt đẹp hơn cho phụ nữ, trẻ em và các gia đình ở California.

-Đức Giám mục Kevin Vann, JCD, D.D.

-Đức Giám mục Thành Thái Nguyễn, D.D.

-Đức Giám mục Timothy Freyer, D.D.